| |
THƯ GỬI CON CHÁU
Nguyễn Văn Phú
Thưa lão hữu,
Trong những dịp chuyện trò với nhau ở trụ sở trong
khi chờ đợi các con đến đón, chúng ta đã đồng ý với
nhau về một số vấn đề và lão hữu bảo tôi nên viết
các điều ấy ra để cho con cháu đọc, vì lão hữu tay
run quá, muốn viết cũng không được. Đặc biệt là năm
nay là tròn 30 năm tỵ nạn, cho nên cần làm sáng tỏ
một số việc cho các con, nhất là các cháu, hiểu. Mấy
tháng vừa rồi, tôi đã gắng tuân theo lời của lão hữu
; nay coi như việc đã tạm xong. Để dễ trình bày ý
kiến, tôi viết dưới dạng một bức thư của bố mẹ gửi
cho các con. Kính mời lão hữu nhàn lãm, rồi sửa đổi
và bổ túc cho, đa tạ.
***
Các con thân yêu,
Nay, bố mẹ tuổi đã 80, thế cũng là khá thọ so với
các thế hệ trước bố mẹ. Bố mẹ đã nhiều lần nói
chuyện với các con về một số vấn đề, nhưng không
phải lúc nào cũng có đủ các con cùng nghe. Hơn nữa,
không chắc các con đã nhớ hết những lời nói của bố
mẹ. Vì thế mới có lá thư này để tóm tắt những ý kiến
chính mà bố mẹ muốn gửi đến các con. Còn các cháu
thì chỉ nói mà ít đọc được tiếng Việt, nên các con
hãy liệu cách truyền đạt lại ý của bố mẹ và giảng
giải cho các cháu biết, chẳng những biết mà phải
hiểu kỹ những điều bố mẹ viết ra đây ngày hôm nay.
Biết Ơn. Các con ạ, trên đường tỵ nạn cộng sản, tìm
tự do, chúng ta đã bỏ lại tất cả, tài sản, bàn thờ
và mồ mả tổ tiên. Khi đến định cư nơi quê hương thứ
hai này, chúng ta đã được chính quyền và dân chúng
đón tiếp và giúp đỡ. Hiện nay, đời sống của chúng ta
đã ổn định. Chúng ta phải biết ơn đất nước này và
hãy tìm cách góp phần làm cho đất nước này tươi đẹp
hơn, giàu mạnh hơn để đền đáp phần nào cái ơn đó.
Lý Do Tỵ Nạn. Các con cần giảng rõ cho các cháu biết
lý do nào đã khiến cho gia đình chúng ta tới đây
cùng với hàng vạn gia đình khác, đó là : chúng ta tỵ
nạn cộng sản, đi tìm tự do. Các cháu được sống trong
một xã hội dân chủ, tự do từ lúc mới sinh ra nên
không thể tưởng tượng nổi tính dối trá và các thủ
đoạn nham hiểm của cộng sản. Các cháu khó có thể tin
được tại sao con người đối với nhau mà lại tàn ác
như vậy. (Có thể cho các cháu coi phim Journey from
the Fall - Vượt Sóng, do Trần Hàm đạo diễn, khởi
chiếu 30-4-2005). Cộng sản hành động rất ác nhưng
nói rất khéo và che đậy rất giỏi ! Vì thế phải giải
thích cho các cháu hiểu, không phải để hận thù mà là
để biết sự thật. Có một câu mà nhiều người hay nhắc
: �Đừng nghe những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn
những gì cộng sản làm.�
Quê Cha Đất Tổ. Dù công việc bận rộn đến mấy, các
con hãy dành thì giờ nghiền ngẫm những trang lịch sử
và địa lý Việt Nam, để biết nguồn gốc dân tộc, sự
hình thành đất nước, những bước thăng trầm, những
nỗi vinh nhục, những khôn ngoan và lầm lỗi của ông
cha ta. Và từ đó chúng ta rút ra những bài học. Có
những trang sử oai hùng, mà cũng có những trang sử
đẫm nước mắt. Có khi nước ta bị đô hộ khổ nhục cả
ngàn năm, mà cũng nhiều khi dân ta anh dũng vùng lên
phá xiềng xích, giành tự chủ. Lại cũng có khi người
mình đi xâm chiếm tàn phá nhiều nước khác, thí dụ
gần đây nhất là mười năm tàn phá Cao Mên, gây nên
căm hờn của nước láng giềng và để lại cái nghiệp
nặng mà các thế hệ sau sẽ còn phải gánh chịu !
Lịch Sử Gần Đây. Nước ta bị Pháp đô hộ từ cuối thế
kỷ 19. Khoảng 1940, đại chiến thế giới bùng nổ. Ở
nước ta, Nhật đảo chính Pháp ngày 09 tháng 03,1945.
Cuối cùng, phe trục Đức, Ý, Nhật thua đồng minh Anh,
Pháp, Mỹ, Liên Xô, Trung Hoa. Vào ngày 19 tháng 08,
1945, dân ta dành chính quyền, thu hồi độc lập.
Nhưng không được bao lâu, Pháp tìm cách quay lại.
Cuộc toàn quốc kháng chiến chống Pháp bắt đầu ngày
19 tháng 12, 1946. Khi phe Việt Minh lộ rõ bản chất
cộng sản, các đảng phái quốc gia trước nguy cơ bị họ
tiêu diệt dần, đã trở về vùng quốc gia là nơi đã
thiết lập một chính quyền khác với nhà cầm quyền
vùng kháng chiến mà thực chất là cộng sản. Sau trận
Điện Biên Phủ, Hiệp định Genève 1954 chia đôi đất
nước : miền Bắc là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, miền
Nam là Việt Nam Cộng Hòa. Miền Bắc công khai theo
khối cộng sản, tiến hành xâm lăng miền Nam bằng võ
lực và che mắt thế giới bằng con bài Mặt Trận Giải
Phóng Miền Nam. Miền Nam được Hoa Kỳ và đồng minh
của khối tự do ủng hộ để ngăn sự bành trướng của
cộng sản. Khi quân xâm lăng mạnh lên thì Hoa Kỳ đổ
quân vào miền Nam, bắt đầu vào 1960, và chiến tranh
trở nên khốc liệt.
Năm 1972, sau khi Liên Xô và Trung Quốc trở thành
đối nghịch thì tổng thống Nixon đến Trung Quốc ký
Thỏa hiệp Thượng Hải. Hoa Kỳ không cần đến "tiền đồn
chống cộng" nữa nên bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa ! (Soạn
phẩm Khi đồng minh tháo chạy của tiến sĩ Nguyễn Tiến
Hưng cho biết những sự thật phũ phàng về sự bội ước
và tháo chạy của Mỹ.) Theo Hiệp định Paris 1973 :
Hoa Kỳ rút quân khỏi miền nam Việt Nam, chỉ để lại
một số cố vấn mà thôi, còn quân Bắc Việt vẫn ở lại !
Cộng sản Bắc Việt tiếp tục xâm lăng miền Nam với
nhiều viện trợ của cộng sản quốc tế. Việt Nam Cộng
Hòa dù tự vệ can trường đến mấy, mà không đủ vũ khí,
xăng dầu ? thì chắc chắn là kém thế. Ngày 30 tháng
Tư 1975, thủ đô Sài Gòn thất thủ. Cuộc di cư tỵ nạn
cộng sản, tìm tự do bắt đầu. Từ đây trở đi, chính
các con biết khá nhiều chi tiết.
Suy Xét Thông Tin và Sử Liệu. Thời buổi này, thông
tin rất nhiều, quá nhiều. Người ta viết về Việt Nam,
về chiến tranh Việt Nam nhiều lắm, có cả phim ảnh
nữa, nhưng trung thực thì chẳng được bao nhiêu. Có
người viết trung thực nhưng chỉ nhìn được một khía
cạnh của vấn đề, hệt như "những anh mù sờ voi". Có
người cố ý bẻ cong sự thật, nhằm đạt mục đích riêng
của mình. Có người - kể cả nhà tu - còn bịa đặt thêm
chuyện để vu khống người khác ! Tệ nhất là khi kẻ
cầm quyền hay tay sai của họ viết sử. Nhà văn Alex
Haley đã viết ở dòng cuối tác phẩm Roots (Nguồn cội)
: "Rốt cuộc, chính kẻ chiến thắng là kẻ viết sử".
Cho nên, bố mẹ ân cần dặn các con và nhất là các
cháu rằng khi đọc tài liệu, sách vở và coi phim về
Việt Nam thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21, dù là của tác giả
nào, kể cả Âu-Mỹ, cũng phải hết sức thận trọng và
suy xét thông minh.
Theo bố mẹ thì cuộc chiến 1954-1975 ở nước ta là
chiến tranh Nam Bắc, là nội chiến, là chiến tranh ủy
nhiệm, là đối đầu giữa hai khối cộng sản và tự do ;
khí giới nước ngoài, máu dân Việt mình. Đối với
người miền Nam, đó là chiến tranh tự vệ. Còn cộng
sản Bắc Việt thì tuyên truyền và giáo dục quần chúng
rằng đó là chiến tranh chống Mỹ-Ngụy và thống nhất
đất nước. Kẻ thắng kiêu ngạo và tàn ác, người thua
uất hận trong tủi nhục. Mấu chốt của sự chia rẽ trầm
trọng trong dân tộc ta nằm ở điểm ấy (kể ra thì dân
tộc ta còn nhiều sự chia rẽ khác nữa). Chưa thay đổi
được hai cách nghĩ đó thì chưa nói tới hòa hợp dân
tộc được ! Hàng triệu người đã chết, tuy đất nước
được thống nhất mà lòng người đến nay vẫn còn chia
rẽ.
Về Thăm Việt Nam. Có vài vị hỏi bố mẹ đã về thăm
Việt Nam chưa. Câu trả lời là chưa ; vì lý do sức
khỏe. Đã có rất nhiều người về Việt Nam, mỗi người
một lý do, mỗi người một mục đích, mỗi người một
cách nhìn ! Về để chăm sóc cha già mẹ yếu, thăm nuôi
người thân, về để sửa sang phần mộ tổ tiên, về để
giảng dạy cho sinh viên, để nhìn lại quê hương,
những điều ấy là chính đáng. Về để cứu trợ nạn nhân
của các thiên tai hay chữa bệnh cho đồng bào mà
không vì danh vì lợi, cũng là việc tốt. Về để ăn
chơi, để du lịch rẻ tiền, để cầu danh lợi, để xin
vài tấm bằng khen, thì không nên.
Sau này, khi trong nước thay đổi thật sự, các con có
thể đưa các cháu về thăm quê hương. Bố mẹ biết trước
rằng các cháu sẽ không xúc động lắm đâu vì con người
ta phải có kỷ niệm, phải có gắn bó thì mới xúc động
được. Các con hãy cố hướng dẫn cho các cháu yêu đất
nước, dân tộc và đồng bào Việt Nam, đừng để cho các
cháu chỉ là những khách du lịch bình thường. Còn
việc các con hay các cháu sẽ về làm ăn sinh sống tại
Việt Nam thì bố mẹ nghĩ rằng điều đó rất khó xẩy ra.
Hiện Tình Đất Nước. Nếu có ai nói rằng Việt Nam nay
đã tiến bộ (đa số người dân nay đã được ăn cơm thay
vì cơm trộn bo bo, có nhiều xe gắn máy và xe hơi
thay cho xe đạp ... ; chẳng lẽ sau 30 năm im tiếng
súng mà không có tiến bộ !) thì đó là một vài tiến
bộ so với chính Việt Nam chứ nếu đem so sánh Việt
Nam với các nước láng giềng thì đáng xấu hổ về nhiều
mặt (như Cao Mên mà cũng còn có đảng đối lập). Muốn
biết những sự thật ở Việt Nam đằng sau những "bin
đinh" cao ngất, những "ô tô con" bóng loáng, những
khách sạn năm sao, những sân "gôn" tân kỳ, thì phải
theo rõi tin tức trong nước để thấy sự băng hoại
trầm trọng về nhiều phương diện (nhất là về giáo dục),
sự hiện diện của tư bản đỏ, của quốc nạn tham nhũng,
sự phung phí tài nguyên quốc gia, và phải đích thân
đến thăm đồng bào nơi các vùng xa xôi nghèo khó.
Chúng ta cần biết sự thật, không tô hồng mà cũng
chẳng bôi đen !
Để tạm hiểu hiện trạng nước ta, các con tìm đọc bài
nói của tiến sĩ Lê Đăng Doanh, nguyên viện trưởng
Viện Nghiên cứu Quản lý Trung ương Hà Nội. Ông ta
thuyết trình các sự thật cho các cán bộ cao cấp nhất
của cộng sản Việt Nam nghe. Bài nói này gần đây mới
được tiết lộ ra ngoài. Bài giới thiệu viết : "Mọi
người phải chú ý tới những con số cho thấy sự thật
phũ phàng về nền kinh tế Việt Nam. Ông Doanh cho
thấy cả tình trạng yếu kém của nền kinh tế lẫn tính
chất phi dân chủ của chế độ cộng sản ở Việt Nam. Từ
đó ông dám nói thẳng cả cơ cấu chính trị cũng hỏng,
phải thay đổi" (Ngô Nhân Dụng, nhật báo Người Việt,
ngày 30-03-2005).
Ông Doanh kể lại rằng một chuyên viên tài chánh quốc
tế đã đặt câu hỏi với ông như sau : "Chúng mày giỏi
thế mà chúng mày nghèo lâu đến thế, là thế nào ? Trí
tuệ như thế này, truyền thống như thế này, sao mày
ăn xin hoài thế ? Chúng mày cứ đề ra cái mục tiêu là
đến bao giờ chúng mày đừng đi ăn xin nữa, có được
không ? " Thật là một mối nhục chung cho cả nước !
Nước ta đâu có hèn kém, dân ta đâu có lười biếng. Do
đâu mà khổ nhục đến thế ? Do độc tài đảng trị !
Thái Độ Chính Trị. Không những đồng bào hải ngoại
đòi bãi bỏ độc đảng, thiết lập đa nguyên đa đảng, mà
ngay cả những đảng viên cộng sản cùng các phần tử
tiến bộ ở trong nước cũng đòi như vậy. Cần hiểu rằng
: chống độc tài, độc đảng, chống tham nhũng, chống
đường lối sai lầm của cộng sản, không phải là chống
nước Việt Nam mà là mong cho nước Việt Nam khá hơn,
tiến hơn.
Nếu có ai nghĩ rằng cộng sản Việt Nam ngày nay đã "đổi
mới" một chút thì nên biết rằng do sự sụp đổ của
cộng sản Đông Âu, do sự đấu tranh ở trong và ngoài
nước, do áp lực quốc tế và do nguy cơ tan rã của
đảng nên cộng sản Việt Nam bắt buộc phải đổi mới về
kinh tế (mà không chịu đổi mới về chính trị) ! Tuy
mình không làm chính trị nhưng mình phải có thái độ
chính trị, mình phải tiếp tục ủng hộ các cuộc đấu
tranh sao cho đất nước có dân chủ tự do thật sự.
Tổng bí thư của cộng sản Việt Nam đã nhận rằng cộng
sản Việt Nam có "phạm nhiều sai lầm". Chúng ta hỏi :
sai lầm sao không sửa, sao không công khai xin lỗi
quốc dân, sao không trả lại ruộng đất nhà cửa cho
các tư nhân và các giáo hội, sao không bồi thường
cho các nạn nhân của vụ cải cách ruộng đất, của vụ
Nhân Văn Giai Phẩm, của các đợt cải tạo công thương
nghiệp, sao không bồi xin lỗi những người bị bắt đi
tù "học tập cải tạo" ? Sự thực thì ai ai cũng muốn
xóa bỏ hận thù, nhưng cộng sản Việt Nam cần phải
hành động cụ thể cho nhân dân trông thấy. Nói "xóa
bỏ hận thù, khép lại quá khứ, nhìn về tương lai"
xuông thôi thì ích gì ? Nói "đại đoàn kết" mà lại do
đảng lãnh đạo (điều 4 hiến pháp cộng sản) thì ai mà
tin được !
Chuyện Trong Gia Đình. Bây giờ nói chuyện trong nhà
. Bố mẹ thuộc thế hệ trước, nuôi nấng các con theo
quan niệm thời bố mẹ, cũng như ông bà nuôi nấng bố
mẹ theo quan niệm thời ông bà. Một vài lúc nào đó,
có thể các con nghĩ rằng bố mẹ đã quá khắt khe với
các con. Thời buổi ấy là như vậy. Mong các con quên
đi những gì mà bố mẹ đã vô tình làm cho các con buồn
lòng. Hãy nhớ rằng bố mẹ không đua đòi ăn chơi,
không chi tiêu hoang phí, lúc nào cũng giữ một đời
sống mực thước, và bố mẹ đã cố gắng làm việc và dành
dụm để các con được sống đầy đủ, được học hành cẩn
thận, dưới mái ấm của gia đình.
Vì tài sản của bố mẹ đã bị cs cướp hết rồi nên khi
sang tới đất mới này, đời sống của chúng ta khá khó
khăn. Bố mẹ đã nhận làm những công việc thật mệt
nhọc. Các con đã chịu khó đi làm vất vả trong các
dịp hè, và đã cố gắng học hành chăm chỉ, đến nay thì
"đâu vào đấy"cả. Đó là nhờ ơn Trời, Phật, Tổ tiên.
Các con không bao giờ được tự mãn, nghĩ rằng mình
tài, mình giỏi. Hãy nhớ : "Trông lên thì chẳng bằng
ai, trông xuống chẳng ai bằng mình". Cái tài, cái
giỏi nếu có thì chỉ là một phần thôi, còn các phần
khác là nhờ các thuận duyên, nhờ âm đức của tổ tiên
và của chính mình từ các kiếp trước và kiếp này. Các
con phải luôn luôn sống đạo đức để bồi đắp cho cái
nghiệp lành của mình, hệt như người dùng xe hơi phải
lo "sạc điện" cho bình ắc-quy vậy. Gieo nhân lành
thì sẽ hái quả lành. Luật nhân quả là một luật của
trời đất, không sai được !
Trong gia đình riêng của các con, bố mẹ khuyên : vợ
chồng phải cư xử với nhau trong sự tương kính, phải
nhường nhịn lẫn nhau. Không thể tránh được vài đụng
chạm đâu, hãy khéo léo và bình tĩnh mà giải quyết
mọi việc. Nóng giận là hỏng, phải cố tránh nóng giận.
Còn đối với con cái, hãy thương yêu nhưng không được
nuông chiều. Cần phải kiểm soát bạn bè của các cháu
và phải liên lạc với cha mẹ của bạn bè các cháu để
tìm hiểu cho chắc chắn ; hư hỏng vì bè bạn trong xã
hội này là một sự kiện rất phổ biến ! Tivi, "ghêm",
"chat" . .. phải hạn chế, còn thể dục thể thao thì
nên khuyến khích. Bản thân các con phải lo xếp thì
giờ tập thể dục, sống một cuộc sống thăng bằng. Hãy
rút kinh nghiệm của bố : lúc trẻ, bố miệt mài làm
việc nhiều quá cho nên nay về già, bị cơ thể "hỏi
tội", đau lên đau xuống hoài !
Trong đời sống hàng ngày, phải luôn luôn tiết kiệm (chứ
không hà tiện) và phải bảo vệ môi trường sinh hoạt
vì tài nguyên thế giới chỉ có hạn, chúng ta cần nghĩ
đến các thế hệ mai sau. Dùng thứ gì cũng không được
phí phạn, kể từ tờ giấy lau tay ! Thỉnh thoảng, hãy
cho các cháu coi hình chụp hay phim ảnh những trẻ em
đói rét và cho các cháu biết rằng trên trái đất này
còn rất nhiều người khổ cực.
Khi anh chị em cư xử với nhau, phải nhớ kỹ mấy câu
"anh em như thể tay chân", "chị ngã em nâng", "một
giọt máu đào hơn ao nước lã", "một con ngựa đau, cả
tàu không ăn cỏ". Bí quyết là áp dụng chữ xả. Hãy bỏ
qua hết mọi khuyết điểm của anh chị em mình. Các con
mà chia rẽ thì bố mẹ đau khổ vô cùng, chết khó nhắm
mắt được.
Trong xã hội này, vì bận rộn quá, người ta chỉ đủ
thì giờ lo cho gia đình riêng nên có khi lơ là với
đại gia đình, dù thâm tâm không muốn như vậy. Các
con hãy đề cao tình đoàn kết trong đại gia đình. Với
các con gái và con dâu, bố mẹ nhắc : các con hãy
giúp chồng giữ liên lạc tốt đẹp với anh chị em và họ
hàng nội ngoại.
Tiếng Việt Tại Nước Ngoài. Có vài điều đáng bàn. Các
cháu là công dân nước này, với mọi bổn phận và quyền
lợi của một công dân. Cuộc sống thực tế trong trường
học cũng như ngoài xã hội bắt buộc các cháu phải nói
Anh hay Pháp ngữ, và phải nói và viết thật giỏi, nếu
không thì sẽ khó hòa đồng, bị lạc lõng và bị thua
kém ! Đi học, các cháu nói tiếng Anh hay tiếng Pháp
(hoặc cả hai). Về nhà, các cháu thường nói với nhau
bằng hai thứ tiếng ấy. Tuy các con thường bắt các
cháu nói tiếng Việt trong gia đình, bố mẹ vẫn cảm
thấy tiếng Việt của các cháu hãy còn kém. Nói tiếng
Việt đã yếu, viết câu tiếng Việt còn tệ hơn, vì các
cháu có tập đọc và viết chữ Việt thường xuyên đâu !
Một vài giờ tiếng Việt vào cuối tuần ở trung tâm
Việt ngữ với các cô giáo rất tận tâm cũng chưa đủ
làm cho các cháu khá lên. Chỉ riêng việc học cách
xưng hô theo tiếng Việt đã là khó nhất thế giới rồi
!
Đồng bào ta ở hải ngoại luôn luôn nhắc đến việc bảo
tồn tiếng Việt. Bố mẹ cũng nghĩ như vậy. Nhưng xét
cho cùng, một đứa trẻ không thể kể là hai đứa trẻ
(Việt & Canada hay Việt & Mỹ) nhập làm một được !
Nếu ép quá thì sức của chúng chịu không nổi. Còn thể
thao, còn âm nhạc nữa chứ. Vậy ta phải khéo chọn
đúng liều lượng, đừng biến đứa trẻ thành "cái máy
học" ! Các cháu sẽ phải vươn lên ở đất nước này. Các
con cần chuẩn bị sao cho chúng sống thích hợp với
môi trường và sống thoải mái tại đây.
Xã Hội Âu-Mỹ. Xã hội này là một xã hội tiêu thụ quá
mức. Các con không nên để mình bị lôi cuốn dễ dàng
vào các trò tiếp thị khéo léo nhằm xúi giục chúng ta
mua hàng thả dàn. Chúng ta dễ bị ảnh hưởng của quảng
cáo, ngay cả trong khi chúng ta đang bị các nhà băng
và các hãng bảo hiểm bao vây, chi phối. Các con cần
"thiểu dục, tri túc" tức là "ít ham, biết đủ", chỉ
mua thứ cần thiết, không có không được mà thôi !
Nhà, xe cũng vậy ; an toàn và đủ dùng cho sinh hoạt
hàng ngày là được rồi. Tránh nợ nhiều. Thảnh thơi
thì hơn ! Bố mẹ không nói lý thuyết xuông đâu, xã
hội bây giờ xuống dốc về đạo đức, về tâm linh, chỉ
vì hướng ngoại nhiều quá, lo về vật chất nhiều quá,
ích kỷ quá, chẳng tìm thấy hạnh phúc ở đâu cả ! Bớt
ích kỷ, hãy nghĩ đến đồng loại, phải biết chia sẻ
với đồng loại.
Riêng Phần Bố Mẹ. Già thì sẽ bệnh, bệnh rồi sẽ ...
ra đi ! Quy luật tự nhiên là vậy. Đến ngày ấy, các
con hãy lo thu xếp tổ chức tang lễ cho bố mẹ được
trang nghiêm nhưng đơn giản. Bố mẹ muốn theo nghi lễ
Phật giáo. Nếu chôn cất bố mẹ ở một nghĩa trang thì,
sau này, khi phải đi làm ăn nơi khác, các con sẽ
thắc mắc vì ở xa không trông nom được phần mộ ! Bố
mẹ chọn cách hỏa táng, thuận tiện hơn ; mà khỏi phải
chiếm đất, vì đất rất cần thiết cho các thế hệ sau.
Có thể đem trải tro của bố mẹ lên núi hay xuống
sông, xuống biển. Cát bụi trở về cát bụi, có gì đâu
! Thay vì đãi đằng ăn uống, các con nên dành tiền
bạc góp vào các việc có ích lợi chung. Đừng e thiên
hạ chê cười, mọi người sẽ hiểu và sẽ tán thành.
Có một chi tiết như thế này : nếu chẳng may, bố hay
mẹ ngã bệnh mà phải chịu một "đời sống thực vật",
các con hãy can đảm chọn giải pháp rút các ống trợ
sinh ; kéo dài làm chi, chỉ gây khổ cho mọi người !
Bàn Thờ Gia Đình. Trong hoàn cảnh ngày nay, khó lập
bàn thờ ngay trong nhà. Nhớ đến tổ tiên, ông bà nội
ngoại, cha mẹ, các con có thể bày ảnh nơi trang
trọng nhất ở trong nhà để tỏ lòng tôn kính và để tự
hứa không bao giờ làm tổn hại gia phong. Đến ngày
giỗ, xếp một bàn nhỏ, bày một chén nước trong, vài
bông hoa thơm, mấy trái cây tươi và một nén nhang
(nhang điện cũng được) là đủ, vì lòng thành của các
con và các cháu mới là quý. Bố mẹ nói "các cháu" là
có ý nhắc các con cần cho các cháu biết ý nghĩa ngày
giỗ của dân tộc Việt Nam. Vào những ngày giỗ, các
con hãy nghĩ thiện, làm lành nhiều hơn các ngày
khác, hãy chia sẻ chút đỉnh cho người nghèo, hãy gom
quần áo dư để dành cho các hội từ thiện. Nếu anh chị
em nhân ngày giỗ mà về họp mặt ở một nơi thì thật là
tốt vì tình thân gia đình sẽ nhờ đó mà tăng lên. Các
con cố gắng tổ chức họp mặt như vậy nhé.
Mong các con đọc kỹ thư này, suy nghĩ đến nơi và cố
gắng thực hành những lời dặn của bố mẹ.
Bố mẹ cám ơn tất cả các con đã luôn luôn tận tâm săn
sóc bố mẹ từ bao nhiêu năm nay và đã lo toan đầy đủ
để cho bố mẹ được thoải mái, vui hưởng tuổi già.
Hôn các con thật lâu ! Hôn các cháu thật lâu !
Bố Mẹ
* * * * *
Lettre à mes enfants et petits enfants, Nguyễn văn
Phú
Traduit par Dr Nguyễn Ngọc Quỳ
Cher vieil ami,
Lors des conversations que nous avons eues ensemble
à notre siège, en attendant que nos enfants viennent
nous chercher, nous nous sommes mis d’accord sur un
certain nombre de points.
Vous m’avez instamment demandé de les coucher sur le
papier à l’intention de nos descendants car,
disiez-vous, vous souffriez du tremblement des mains
au point de ne plus pouvoir tenir la plume. Qui plus
est, cette année marque le 30ème anniversaire de
notre exil comme réfugiés, et il nous a paru utile à
tous deux, de clarifier, pour nos enfants et surtout
pour nos petits enfants, un certain nombre de
points.
Durant ces derniers mois, je me suis efforcé de me
conformer à vos objurgations, si bien
qu’aujourd’hui, mon travail peut être considéré
comme à peu près achevé. Dans un souci didactique,
je me propose de présenter les choses sous forme de
lettre de parents adressée à leurs enfants. Je vous
invite à l’examiner à loisir et vous remercie des
corrections et compléments que vous voudrez bien y
apporter.
Mes enfants bien aimés,
Maman et Papa sommes maintenant octogénaires,
atteignant ainsi une longévité appréciable par
rapport aux générations qui nous ont précédés. Nous
vous avons, à maintes occasions, entretenus d’un
certain nombre de sujets, mais vous n’étiez pas
souvent tous réunis pour nous écouter. De plus, il
n’est pas certain que vous ayez retenu tous nos
propos. Aussi, cette lettre a-t-elle été rédigée
pour résumer les principales idées que nous
souhaitions vous faire parvenir. Pour vos enfants
qui parlent le việtnamien mais ne le lisent pas très
bien, nous vous demandons de trouver la meilleure
façon de leur transmettre nos pensées et de leur
donner toutes les explications utiles. Il ne s’agit
pas seulement de prendre connaissance de ce que nous
mettons aujourd’hui par écrit pour vous, mais encore
d’en bien pénétrer le sens.
De la gratitude - Mes enfants, en fuyant le
communisme pour rechercher la liberté, nous avons dû
tout laisser derrière nous : nos biens, l’autel et
les tombes de nos ancêtres. Dans cette deuxième
patrie, les autorités et la population nous ont bien
accueillis et nous ont aidés à nous installer.
Maintenant que notre situation s’est bien
stabilisée, nous devons être reconnaissants envers
ce pays et nous efforcer de contribuer à le rendre
encore plus rayonnant, plus prospère et plus
puissant, témoignant ainsi quelque peu de notre
gratitude.
Des raisons de notre exode - Vous devez expliquer
clairement à vos enfants les raisons qui ont poussé
notre famille ainsi que des dizaines de milliers
d’autres à venir nous installer ici : nous fuyions
le communisme, à la recherche de la liberté. Vos
enfants ont la chance de vivre dans une société
démocratique. Goûtant à la liberté dès leur
naissance, ils ne pourraient jamais s’imaginer
jusqu’où peuvent aller la duplicité et la cruauté
des communistes. Ils auraient du mal à croire que
des hommes puissent être aussi féroces envers
d’autres hommes (On peut leur faire voir le film «
Voyage sur l’océan », réalisé par Trần Hàm et qui
est sorti en salle le 30-04-2005.) Les communistes
sont très cruels en acte mais très habiles en parole
et excellent dans l’art de la dissimulation ! D’où
la nécessité de bien faire comprendre les choses à
vos enfants, non pas tant pour susciter la haine que
pour leur faire connaître la réalité. On se répète
souvent cette phrase : « N’écoutez pas ce que disent
les communistes, regardez bien ce qu’ils font. »
Du pays de nos ancêtres - Si occupés que vous soyez,
prenez le temps de méditer sur l’histoire et la
géographie du Việt Nam, afin de connaître les
origines de notre peuple, la formation de notre
nation, nos vicissitudes, nos moments de gloire
comme nos heures d’humiliation, les actes de sagesse
de nos pères comme leurs forfaits. Il convient d’en
tirer toutes les leçons.
Les pages de notre histoire sont remplies
alternativement de gloire et de larmes. A certaine
époque, notre pays a dû subir le joug d’une
occupation humiliante durant mille ans; à d’autre
moment notre peuple a su se soulever héroïquement
pour briser ses chaînes et reconquérir son
indépendance. Il nous est arrivé de nous lancer dans
la conquête et la destruction d’autres pays;
l’exemple le plus récent en est l’occupation
destructrice du Cambodge pendant dix ans, provoquant
la haine d’un pays voisin et laissant ainsi un poids
très lourd dans notre karma, que les générations
futures auront à assumer.
De l’Histoire récente - Notre pays a été colonisé
par la France à la fin du 19ème siècle. Vers 1940,
éclata une guerre mondiale. Dans notre pays, les
Japonais renversèrent les Français, par un coup
d’Etat, le 09-03-1945. L’empereur Bảo Đại décréta
l’abolition du traité de protectorat conclu avec la
France et confia à M. Trần Trọng Kim la formation du
premier gouvernement du Việt Nam indépendant. En
définitive, les pays de l’Axe, Allemagne, Italie et
Japon, furent vaincus par les Alliés, Angleterre,
France, Etats-unis, URSS, Chine. Le 19-08-1945, le
Việt Minh s’empara du pouvoir détenu par le
gouvernement Trần Trọng Kim et proclama la création
de la République démocratique du Việt Nam. Mais peu
de temps après, la France chercha à rétablir sa
domination. Le 19-12-1946 une guerre de résistance
nationale se déclara contre les Français. Mais
lorsque le Việt Minh révéla sa vraie nature
communiste, les partis nationalistes, face au danger
de se faire progressivement anéantir, se replièrent
vers la zone nationaliste contrôlée par un
gouvernement différent de celui de la zone de
résistance, d’essence communiste.
Après la bataille de Điện Biên Phủ, les Accords de
Genève de 1954 ont partitionné le pays en deux : le
Nord devenait la République Démocratique et le Sud,
la République du Việt Nam. Le Nord se réclamait
ouvertement du bloc communiste et entama sans tarder
le processus de conquête du Sud par la force, qu’il
dissimulait aux yeux du monde entier, derrière sa
créature que fut le Front National de Libération du
Sud. Le Sud Việtnam reçut l’appui des Etats-unis et
des alliés du monde libre pour faire pièce à
l’expansion du communisme. Lorsque les troupes
d’invasion du Nord prenaient trop d’ampleur, les
Etats-unis firent débarquer leurs soldats dans le
Sud. A partir de 1965, la guerre s’intensifia.
En 1972, après la rupture consommée entre l’URSS et
la Chine, le Président Nixon se rendit en Chine et y
signa les Accords de Shanghai. Dès lors, les
Etats-unis n’ayant plus besoin de leur avant-poste
contre le communisme, laissèrent tomber la
République du Việt Nam ! (L’ouvrage « Lorsque les
Alliés s’enfuient » du Dr. Nguyễn Tiến Hưng révèle
des réalités affligeantes sur la trahison et la
fuite des Américains.) Selon les Accords de Paris de
1973, les Etats-unis devaient retirer leurs troupes
du Sud Việt Nam, et ne pouvaient laisser sur place
qu’un certain nombre de conseillers militaires alors
que les troupes Nord việtnamiennes elles, restaient
stationnées au Sud ! Les communistes du Nord
pouvaient ainsi poursuivre leur invasion du Sud avec
l’aide considérable du bloc communiste
international. Le Sud Việt Nam, quel que soit le
courage avec lequel il livra sa guerre
d’autodéfense, s’est trouvé acculé, en raison du
rationnement de munitions et de carburants, dans une
situation intenable. Le 30-04-1975, Sàigòn, la
capitale, tomba. Commença alors l’exode des réfugiés
fuyant le communisme, à la recherche de la liberté.
La suite, vous la connaissez avec suffisamment de
détails.
De l’analyse des informations et des documents
historiques - De nos jours, il y a pléthore
d’informations. On a écrit énormément sur le Việt
Nam, sur la guerre du Việt Nam avec en plus des
photos, des films. Mais peu d’ouvrages ou de
réalisations vraiment rigoureux. Des auteurs
honnêtes existent mais qui n’arrivent à rendre
compte que d’un aspect de la réalité, tels les
aveugles de la fable bouddhiste qui cherchent à
décrire l’éléphant en le palpant. D’autres déforment
sciemment la vérité pour des visées personnelles.
D’autres encore, - des religieux de surcroît -,
affabulent dans le but de calomnier. Le pire, c’est
lorsque les tenants du pouvoir ou leurs sbires se
mettent à écrire l’Histoire. Alex Haley l’a écrit
dans les dernières lignes de son ouvrage « Racines »
: « En fin de compte, l’Histoire est écrite par les
vainqueurs. » C’est pourquoi, nous vous demandons
instamment à vous et surtout à vos enfants,
d’observer une extrême prudence et d’exercer une
intelligence vigilante lorsque vous abordez les
documents écrits ou les films sur le Việt Nam au
20ème siècle et au début du 21ème siècle, et ce,
quels qu’en soient les auteurs, même européens ou
américains.
Pour nous, vos parents, le conflit qui a eu lieu
dans notre pays, de 1954 à 1975, fut une guerre
entre le Nord et le Sud, une guerre civile, une
guerre par procuration résultant de l’affrontement
entre le bloc communiste et le monde libre, une
guerre livrée avec les armes des pays étrangers et
le sang du peuple việtnamien. Pour les populations
du Sud, c’était une guerre d’autodéfense. Pour les
communistes du Nord, conditionnés par la propagande
et le dressage des masses, c’était une guerre livrée
contre la clique Américano-fantoche pour réunifier
le pays. Les vainqueurs s’étaient montrés arrogants
et cruels, les vaincus eux, ravalaient leur sourde
haine et leur humiliation. Là gît le cœur des
divisions profondes de notre peuple (à vrai dire, il
existe d’autres motifs de division.) Tant qu’on
n’arrive pas à faire changer ces deux façons de
percevoir les choses, il serait vain de parler de
réconciliation nationale ! Des millions de morts, un
pays réunifié, mais les Việtnamiens restent encore
profondément divisés dans leur cœur.
Des visites au Việt Nam - Certaines personnes nous
ont demandé si nous étions déjà rentrés au Việt Nam.
Notre réponse a été : « pas encore, et pour des
raisons de santé. » Beaucoup de monde sont rentrés
au pays, chacun y va de sa raison personnelle, de
son but, de sa façon de voir les choses ! Retourner
au pays pour prendre soin de ses parents âgés ou
malades, pour s’occuper de ses proches, pour
entretenir les tombes de ses ancêtres, pour donner
des cours aux étudiants, pour revoir son pays, voilà
des motifs légitimes. Rentrer pour porter secours
aux victimes des catastrophes naturelles ou pour
aider des compatriotes dans le besoin, de façon
désintéressée, voilà une bonne action. Mais rentrer
pour festoyer ou pour s’amuser, pour faire du
tourisme à bon marché, pour rechercher honneur ou
avantage voire pour quémander quelque distinction
officielle, alors il vaut mieux s’en abstenir.
Plus tard, si le pays changeait effectivement, vous
pourriez ramener vos enfants visiter notre patrie.
Mais nous pouvons vous dire à l’avance qu’ils ne
seront pas particulièrement émus, - on ne saurait
éprouver une quelconque émotion si l’on n’a pas de
souvenirs qui vous attachent à quelque chose. Tâchez
d’amener vos enfants à aimer notre pays, notre
peuple, nos compatriotes, et faites en sorte qu’ils
ne se comportent pas en vulgaires touristes. Quant à
l’éventualité de vous voir vous installer et vivre
au Việt Nam, nous pensons qu’elle est peu probable.
De l’état actuel du pays - Si quelqu’un vous dit que
le pays a fait des progrès (la majorité de la
population arrive maintenant à se procurer du riz
pour leurs repas, au lieu du misérable mélange de
riz et d’avoine; les motos et les voitures
remplacent les vélos … ; c’est quand même impensable
qu’après trente années de paix, il n’y ait aucun
progrès !), sachez qu’il s’agit, en vérité, d’un
constat de l’évolution du pays sur sa propre
trajectoire. Car si l’on compare le Việt Nam avec
les pays voisins, on doit avoir honte sur de
nombreux sujets (même le Cambodge a un parti
d’opposition !). Si vous voulez connaître la réalité
du Việt Nam qui se cache derrière les buildings, les
voitures rutilantes, les palaces cinq étoiles, les
terrains de golf dernier cri, informez-vous sur la
situation à l’intérieur du pays. Pour vous rendre
compte de la déliquescence avancée de multiples
secteurs (en particulier l’éducation), de
l’existence d’un capitalisme rouge, de la corruption
comme fléau national, de la gabegie des ressources
de la nation. Et rendez donc visite aux compatriotes
vivant dans des régions reculées et misérables. Nous
avons besoin de connaître la vérité sans fard, celle
qui n’est peinte ni en rose ni en noir.
Pour vous faire une idée précise de la situation de
notre pays, procurez-vous l’exposé du Dr. Lê Đăng
Doanh, ancien directeur de l’Institut Central de
Recherche sur la Gestion à Hà Nội. Il a dit la
vérité aux plus hauts dirigeants communistes. Ce
document vient de parvenir à l’étranger. Dans une
présentation qui est faite de ce texte, on peut lire
: « Chacun doit prêter attention aux chiffres qui
rendent compte de la triste réalité de l’économie
việtnamienne. M. Doanh pointe du doigt les
faiblesses de l’économie et la nature
antidémocratique du régime communiste au Việt Nam.
Partant de là, il affirme sans détour que les
structures politiques sont obsolètes, qu’il faut les
changer » (Ngô Nhân Dụng, in quotidien Người Việt du
30-03-2005).
M. Doanh rapporte une anecdote : un expert des
finances internationales lui a posé la question
suivante: « Doués comme vous êtes, comment se
fait-il que vous êtes restés pauvres pendant si
longtemps ? Avec une telle intelligence, une telle
tradition, pourquoi mendiez-vous tout le temps ?
Fixez-vous donc une date limite à partir de laquelle
vous cesserez de demander l’aumône. Est-ce possible
? » Quelle humiliation pour nous tous ! Notre pays
n’a pas que des incapables, notre peuple n’est pas
fainéant; pourquoi cette misère innommable ?
Eh bien ! c’est à cause de la dictature du Parti !
De l’attitude politique - Non seulement les
compatriotes à l’étranger exigent l’abolition du
Parti unique, mais des membres du parti communiste
mêmes, ainsi que les éléments progressistes dans le
pays la réclament. Comprenez bien : lutter contre la
dictature, contre le parti unique, contre la
corruption, contre la ligne erronée des communistes
ce n’est point se dresser contre le Việt Nam, c’est,
bien au contraire, plaider pour que le pays puisse
s’améliorer, progresser.
Certains pensent que les communistes việtnamiens ont
changé pour un peu de « renouveau ». Il faut savoir
que c’est la conséquence de l’effondrement du
communisme en Europe de l’Est, de la lutte des
Vietnamiens à l’intérieur et à l’extérieur du pays,
de la pression internationale; c’est la menace de
désagrégation du Parti qui a acculé les communistes
à des changements économiques (sans changer, pour
autant, sur le plan politique). Même si nous ne
faisons pas de politique, nous devons néanmoins
avoir une attitude politique, nous devons continuer
à soutenir les luttes en vue d’instaurer dans notre
pays une démocratie et une liberté effectives.
Le Secrétaire Général du parti communiste a reconnu
que les communistes việtnamiens « avaient commis de
nombreuses erreurs. » Nous posons la question : si
erreurs il y a eu, pourquoi ne pas les corriger,
pourquoi ne pas demander publiquement pardon au
peuple, pourquoi ne pas restituer leurs terres et
leurs propriétés bâties aux particuliers et aux
institutions religieuses ; pourquoi ne pas
indemniser les victimes de la réforme agraire,
celles de la répression contre les intellectuels et
artistes dans l’affaire Nhân Văn-Giai Phẩm, celles
des vagues de réforme de l’industrie, de l’artisanat
et du commerce ? Pourquoi ne pas accorder réparation
à ceux qui ont été envoyés en « camps dits de
rééducation » et leur demander pardon ? En vérité,
tout le monde souhaite jeter haine et rancunes à la
rivière, mais il appartient aux communistes
d’accomplir des actes concrets pour que le peuple
puisse les constater de visu. Clamer : « effaçons
haine et rancunes, tournons la page du passé,
regardons vers l’avenir » sans rien faire de concret
ne rime à rien. Appeler à la « Grande Union » et la
placer sous l’égide du Parti (article 4 de la
Constitutiơn.) : à qui donc veut-on de la sorte
inspirer confiance ?
Des affaires familiales - Parlons maintenant de nos
affaires de famille. Nous, vos parents, appartenons
à une génération antérieure et nous vous avons
élevés suivant les normes de cette génération, tout
comme vos grands-parents nous avaient élevés d’après
les normes de leur époque. Parfois, il vous arrive
sûrement de penser que nous avons été trop sévères.
Mais, c’était normal en ce temps-là. Nous espérons
que vous oublierez les peines, qu’à notre insu, nous
avions pu vous infliger. Gardez bien présent à
l’esprit que nous n’avons pas cherché à mener la
grande vie, que nous n’avons rien gaspillé, que nous
avons mené une existence faite de mesure et de
raison, que nous nous sommes efforcés de travailler
et d’économiser pour vous permettre de ne manquer de
rien, de poursuivre des études sérieuses, dans une
atmosphère familiale chaleureuse.
Parce que nous avions été spoliés de tous nos biens
par les communistes, nous avions vécu un début fort
difficile à l’arrivée dans ce pays; nous avions dû
accepter des emplois vraiment pénibles. Et vous
aussi, vous avez travaillé dur pendant vos vacances
et fait de sérieux efforts pour vos études. A
l’heure actuelle, tout paraît s’arranger, par la
grâce du Ciel, de Bouddha et de nos ancêtres.
Ne cultivez jamais l’autosatisfaction. Ne vous
considérez jamais comme supérieurs et talentueux.
Rappelez-vous : « Si l’on regarde au-dessus de soi,
on se voit minable ; si l’on regarde au-dessous de
soi, on constate que personne n’est à sa hauteur ».
Votre talent personnel, s’il existe, ne compte que
pour partie, le reste résulte d’heureux concours de
circonstances, des bienfaits intangibles hérités de
vos ancêtres et de vos vies antérieures voire de
votre vie actuelle. Cultivez en permanence une vie
vertueuse afin d’améliorer votre karma, à l’instar
de l’automobiliste qui doit penser à recharger la
batterie de sa voiture. Qui sème le bon grain
récolte de bons fruits. Telle est la loi de la
causalité universelle qui ne souffre d’aucune erreur
!
En ce qui concerne votre petite famille, voici nos
conseils : entre époux, il faut vous respecter l’un
l’autre, savoir faire des concessions mutuelles. Des
frictions sont inévitables; réglez les problèmes
avec calme et souplesse. La colère est de mauvais
conseil, évitez-la.
Vis-à-vis de vos enfants, il faut les aimer sans les
gâter. Il faut surveiller leurs fréquentations, vous
rapprocher des parents de leurs amis pour vous
assurer de les connaître plus complètement; se faire
entraîner dans de mauvaises dérives par des amis est
un phénomène tellement répandu dans notre société !
Les séances de télé, de jeux vidéo et de « chats »
sont à limiter; par contre, il faut encourager la
pratique de la gymnastique et des sports. En ce qui
vous concerne plus personnellement, il faut inclure
l’éducation physique dans vos occupations afin
d’équilibrer vos activités. Inspirez-vous de
l’expérience de votre père : dans ma jeunesse, je
m’étais dépensé sans compter au travail, ce qui fait
qu’aujourd’hui dans mes vieux jours, mon corps «
réclame justice », et je suis fréquemment patraque.
Dans la vie de tous les jours, soyez économes ( mais
non avares) ; pensez à la défense de l’environnement
car les ressources du monde sont limitées; nous nous
devons de penser aux générations suivantes. Pas de
gaspillage, ne serait-ce qu’un kleenex pour vous
nettoyer les mains. De temps en temps, faites voir à
vos enfants des photos et des films qui montrent des
gosses souffrant de faim et de froid afin qu’ils
sachent qu’en ce bas monde, beaucoup de gens sont
encore dans la misère.
Entre frères et sœurs, retenez bien les adages
suivants : « prendre soin de son frère comme de sa
main ou de son pied»; « quand la sœur aînée tombe,
la cadette doit la relever »; « une goutte de sang a
plus de valeur qu’une mare de flotte »; « qu’un
cheval tombe malade, et toute l’écurie arrête de
s’alimenter. » Le secret réside dans l’application
du mot xả ( NDT : abandonner, sacrifier, pardonner).
Ne tenez pas rigueur à vos frères et sœurs pour
leurs défauts. La déchirure entre vous nous ferait
de la peine, énormément.
Dans cette société, chacun est si préoccupé par sa
propre famille qu’il lui arrive, à son corps
défendant, de négliger la grande famille. Mettez à
l’honneur les sentiments de solidarité au sein de la
grande famille. A vous, nos filles et belles-filles,
nous vous enjoignons d’aider vos époux respectifs à
maintenir des relations d’affection avec vos frères
et sœurs, de même qu’avec les collatéraux, tant du
côté paternel que du côté maternel.
De la pratique de la langue vietnamienne à
l’étranger - Quelques points méritent d’être
discutés. Vos enfants, qui sont citoyens du pays
d’accueil, y grandissent avec tous les droits et
devoirs afférents. L’existence quotidienne à l’école
ainsi qu’en société les oblige à parler Anglais
et/ou Français, à les parler et à les écrire
impeccablement, faute de quoi, ils courraient le
risque d’une mauvaise intégration, d’être isolés et
d’être mal considérés. Une fois chez vous, ils
communiquent entre eux avec ces deux langues. Bien
que vous les obligiez à parler Việtnamien en
famille, nous avons l’impression que leur Việtnamien
laisse à désirer. Ne le parlant pas très bien, ils
l’écrivent encore pire, parce qu’ils ne s’exercent
pas fréquemment à la lecture ou à l’écriture.
Quelques heures de mise à niveau en fin de semaine
au Centre d’études việtnamiennes avec une
institutrice, - aussi dévouée soit-elle -, ne
suffisent pas. Le système des vocatifs việtnamiens
est parmi les plus complexes du monde.
Nos compatriotes d’outre-mer rappellent constamment
la nécessité de maintenir l’usage du Việtnamien;
nous pensons la même chose. Mais à bien y réfléchir,
un enfant ne saurait être la fusion de deux enfants
(việtnamien et canadien, ou bien việtnamien et
américain.) Si la pression exercée est par trop
importante, les enfants ne tiendront pas le coup. De
surcroît, il y a les sports, la musique. En
conséquence, nous devons choisir une posologie
adaptée, pour éviter de transformer l’enfant en une
« machine à étudier ». Vos enfants doivent s’élever
dans ce pays. A vous donc de les préparer à
s’adapter de façon adéquate à leur environnement
pour une qualité de vie satisfaisante.
De la société occidentale - C’est une société de
consommation poussée jusqu’à l’excès. Ne vous
laissez pas attraper trop légèrement par des
techniques habiles de marketing qui vous incitent à
consommer sans limites. Nous sommes les proies
faciles de la publicité alors même que nous sommes
encerclés, conditionnés par les banques et les
compagnies d’assurance. Appliquez la formule «
diminuer les désirs, se satisfaire de peu »,
n’achetez que le nécessaire. Ainsi de la maison et
des voitures. Qu’elles soient dans vos moyens et
satisfaisantes pour la vie et le travail de tous les
jours, ce sera bien. Evitez de trop vous endetter.
Mieux vaut s’épargner des soucis. Ce n’est pas de la
théorie gratuite que nous vous prodiguons. Si la
société actuelle s’affaisse sur le plan moral et
spirituel, c’est parce qu’on se tourne trop vers
l’extérieur, qu’on est trop matérialiste, trop
égoïste et qu’on n’arrive à trouver le bonheur nulle
part. Il faut moins d’égoïsme. Pensez aux autres et
sachez partager avec vos semblables.
De nous, vos parents, en particulier - L’âge appelle
la maladie, et le malade finit par s’en aller … pour
de bon ! C’est la loi de la nature. Quand arrivera
ce jour, arrangez-vous pour nous organiser des
funérailles dignes mais simples. Nous souhaitons
bénéficier du rituel bouddhique. Nous mettre en
terre dans un cimetière pourrait vous poser des
problèmes de conscience si jamais, dans l’avenir,
vous êtes appelés, par votre travail, à vous
éloigner, ce qui vous empêcherait de prendre soin de
nos tombes. Nous optons pour la solution crématoire,
plus pratique, et qui ne prend pas de place, car les
terrains seront indispensables pour les générations
futures. Vous pourriez disperser nos cendres sur la
montagne ou sur un fleuve voire dans l’océan.
Poussière, nous retournerons à la poussière, voilà
tout ! Au lieu de dépenser dans les frais de
réception pour remercier ceux qui sont venus, vous
feriez mieux de garder l’argent pour contribuer à
des œuvres d’intérêt collectif. N’ayez pas peur de
vous faire critiquer, les gens finiront par
comprendre et vous approuveront.
Un point précis : si, par malheur, nous tombions
malades et plongions dans une vie végétative, ayez
le courage de faire débrancher les tuyauteries de
survie; pourquoi prolonger ce genre de vie qui ne
peut que poser des problèmes à tout le monde ?
De l’autel familial - Dans le mode de vie actuel, ce
n’est pas très simple d’installer un autel chez soi.
Si vous pensez à nos ancêtres, aux grands parents
paternels et maternels, à vos parents, vous pouvez
exposer des photos à l’endroit le plus convenable de
la maison pour témoigner à la fois de votre respect
et de votre engagement à ne rien faire qui puisse
porter atteinte à l’honneur de la famille. Le jour
anniversaire de notre disparition, préparez une
petite table sur laquelle vous disposerez une tasse
d’eau pure, quelques fleurs parfumées, des fruits
frais et une baguette d’encens (une baguette
électrique ferait aussi bien l’affaire). Ce sera
suffisant. C’est votre vrai amour et celui de vos
enfants qui auront le plus de prix. Nous mentionnons
bien « vos enfants » pour vous rappeler la nécessité
de leur faire percevoir la signification que le
peuple vietnamien confère à la célébration du jour
des morts de la famille. Au cours de ces jours
anniversaires, mettez le Bien au centre de votre
pensée, accomplissez davantage d’actes de bonté que
les autres jours, donnez un peu aux pauvres,
récupérez les vêtements usagés pour les offrir aux
associations caritatives. Si, à ces occasions, tous
vos frères et sœurs se réunissent au même endroit,
ce sera très bien car les liens de famille se
raffermissent en ces circonstances. Faites l’effort
d’organiser de telles réunions, s’il vous plaît.
Nous espérons que vous lirez cette lettre
attentivement, que vous y réfléchirez en profondeur,
et que vous vous efforcerez de réaliser nos
recommandations.
Nous vous remercions de vous être toujours occupés
de nous, depuis tant d’années, et d’avoir fait le
nécessaire pour que nous puissions jouir de notre
vieillesse, dans la sérénité.
Nous vous embrassons, très, très, très fort, vous
tous, nos enfants et petits-enfants.
Papa et Maman
Traduit par Nguyễn Ngọc Quỳ, avec le concours actif
de l’auteur.
NB. L’opinion de l’auteur ne reflète pas
obligatoirement celle du traducteur |