|
Lời tòa soạn: Tác giả Liên Thành nguyên là Cháu nội của Ngài Kỳ Ngoại Hầu Cường Ðể, thuộc dòng con trưởng của Vua Gia Long (tức Ðông Cung Anh Duệ Ðại Nguyên Soái Hoàng Thái Tử Nguyễn Phúc Cảnh). Ông sinh 1 Tháng Mười Hai 1942, tại Huế, học Quốc Học và Ðại Học Huế (Phân khoa Sử), tình nguyện gia nhập quân đội (khóa 16 Võ Khoa Thủ Ðức). Ra trường năm 1963, cấp bậc Chuẩn úy, ông làm Phụ tá Quận Trưởng cho Chi khu Nam Hòa, sau là Ðại Ðội Trưởng Ðại Ðội Nghĩa Quân Nam Hòa, đại đội trưởng đại đội ÐPQuân, Chi Khu Phó Nam Hòa. 1966, Phó trưởng Ty Cảnh sát Ðặc Biệt Ty CSQG/Thừa Thiên (Huế). 1969, Chỉ Huy Trưởng CSQG Thừa Thiên (Huế) cho đến đầu Tháng Giêng 1975. Tác phẩm: “Biến Ðộng Miền Trung, Những bí mật chưa tiết lộ, giai đoạn 1966-1971”, xuất bản năm 2008.
Có quá
nhiều kỷ
niệm về
Huế
trong
tôi. Tạ
từ Huế
đã lâu,
lâu lắm
rồi...
từ dạo
quê
hương
bắt đầu
chìm
trong
thảm họa.
Hơn ba
mươi ba
năm,
chưa một
lần nào
về thăm
cảnh cũ
người
xưa, tìm
lại
những
dấu vết
thời
gian của
một Huế
ngày
tháng cũ.
Nam
Cali,
nơi xứ
lạ quê
người,
mùa này
cuối năm,
buổi
sáng
trời trở
lạnh,
sương mù
mênh
mông, mờ
ảo, gợi
nhớ
những kỷ
niệm Huế
vào
những
ngày
cuối năm,
cũng
sương mù
dày đặc
chắn lối
đi, hình
ảnh
những
người
đàn bà
Huế với
chiếc áo
dài, khi
ẩn, khi
hiện
trong
sương
sớm,
quẩy đôi
thúng cá,
nặng
trĩu
đong đưa
trên vai
từ Chợ
Dinh qua
cầu Gia
Hội, Chợ
Nọ qua
cầu
Tràng
Tiền đến
chợ Ðông
Ba, hay
những
gánh cơm
hến từ
vùng Cồn
Hến băng
qua Ðập
Ðá lên
đường
Hàng Me,
rồi thì
nồi bún
trâu từ
lò trâu
Vân
Dương
lên vùng
An Cựu
thơm lạ
lùng và
quyến rũ
trong
sương
sớm. Ai
đã là
dân Huế
mà chưa
một lần
ăn bún
trâu Vân
Dương
thì quả
là một
thiếu
sót lớn.
Giờ này,
thời
gian
cuối năm
cũng đã
gần kề.
Từ chốn
xa xôi
biền
biệt,
chợt
thấy nhớ
quê
hương,
nhớ Huế
một cách
lạ lùng,
nhớ da
diết...
nhớ lại
những
ngày cận
Tết của
năm 1968
tại Huế.
Từ ngữ
Mậu Thân
1968,
tất cả
đều làm
cho
người ta
nhớ đến
Huế. Huế,
Mậu Thân,
68, đã
vĩnh
viễn đi
vào lịch
sử với
nỗi hãi
hùng
kinh sợ...
Ðã hơn
bốn mươi
năm trôi
qua vậy
mà vết
thương
Mậu Thân
như vẫn
còn đau
đớn
trong
lòng, cứ
mỗi độ
Ðông
sang,
vết
thương
lại tái
phát,
lại đau
nhức trở
lại,
nhất là
thế hệ
chúng
tôi,
những kẻ
suốt nửa
cuộc đời
tuổi trẻ
sống
trọn và
dâng
hiến cho
“cầu
Tràng
tiền sáu
vài mười
hai nhịp”,
cho
“sông An
cựu nắng
đục mưa
trong”,
cho
“tiếng
chuông
Thiên Mụ
canh gà
Thọ
Xương”,
và cho
những
ngày mưa
bụi
giăng
đầy từ
Văn
Thánh,
Thiên Mụ,
xuống
Kim Long
về Bạch
Hổ, qua
Hoàng
Cung của
một thời:
“Lối xưa
xe ngựa
hồn thu
thảo”,
mưa bụi
mờ nhạt
trên
dòng
sông
Hương
trôi về
Ðập Ðá,
Vỹ Dạ,
dòng
sông âm
thầm
lặng lẽ,
như đời
người
dân Huế
chịu
đựng bao
nhiêu
đổi thay,
bao
nhiêu
nghịch
cảnh của
một thời
chính
chiến,
tao loạn.
Và khi
đã ở
lính,
được
phép về
Huế, bất
chợt đi
ngang
qua
trường
Ðồng
Khánh,
ngang
bến đò
Thừa Phủ
vào buổi
chiều
tan học
khi mà
“Áo em
trắng
quá nhìn
không ra”,
nhìn
theo mà
lòng
ngẩn ngơ
buồn.
“Hồn
lính
vương
qua vài
sợi tóc
Tôi
thương
em mà em
đâu có
hay”
(Thơ
Quang
Dũng)
Ðó là
Huế yêu
dấu ngàn
đời. Một
nửa
quãng
đời sống
và lớn
lên tại
Huế, tôi
bây giờ
tháng
năm xa
cách,
thật nhớ
khôn
nguôi.
Nhớ lại
Mậu Thân
1968,
sau 22
ngày bị
VC chiếm
giữ, đến
ngày thứ
26 Huế
hoàn
toàn
được cứu
thoát
khỏi cơn
tai biến
do chính
QLVNCH,
xin tạ
ơn các
anh,
người
lính
VNCH.
Thế
nhưng
sau tai
ương
thảm
khốc đó,
Huế còn
lại gì?
Thân
thuộc
gia đình,
bạn xa,
bạn gần,
hàng xóm
láng
giềng
gần, xa,
bao
nhiêu
mất mát
chia lìa,
bao
nhiêu
tống
biệt,
bao
nhiêu
ngậm
ngùi xót
xa, Huế
đều nhận
lãnh sau
ngày đó. Sau Mậu Thân Huế chẳng còn gì, có còn chăng là những đổ vỡ điêu tàn trong lòng người và trong lòng cố đô Huế.
Việt
Cộng
tràn vào
Huế
khuya
ngày
mồng một
rạng
ngày
mồng hai
Tết Mậu
Thân,
sau 22
ngày tàn
sát dân
Huế và
gây tang
tóc,
điêu
linh, đổ
nát cho
Huế, bọn
chúng
bắt đầu
chạy
trốn
khỏi Huế
vào
khuya
ngày
22/2/1968,
khi bị
QLVNCH
tấn công
và đẩy
bọn
chúng ra
khỏi Huế,
để lại
cho Huế
những
đau
thương
cùng cực
với
5,327
nạn nhân
mà chúng
đã hạ
sát và
1,200
người
mất tích
không
còn dấu
vết tìm
kiếm.
Huế còn
lại điêu
tàn đổ
nát,
thành
phố đầy
rẫy xác
người.
Từ đường
Lê Lợi,
đến
đường
Nguyễn
Huệ,
trường
Thiên
Hựu,
vùng
Dòng
Chúa Cứu
Thế kéo
về đường
Duy Tân,
qua
đường Lý
Thường
Kiệt,
Trần Cao
Vân, khu
tòa Ðại
Biểu,
khu tòa
Hành
Chánh
Tỉnh,
bệnh
viện
Trung
ương Huế,
khu Bưu
Ðiện,
Ngân Khố,
bị tàn
phá nặng
nề, đâu
đâu cũng
thấy xác
người,
ngay vệ
đường,
trong
lùm cây
bụi cỏ,
xác
người đã
sình
thối và
bắt đầu
rữa nát.
Dòng
sông An
Cựu
“nắng
đục mưa
trong”
có 6 cây
cầu bắc
ngang.
Cầu An
Cựu nối
liền
quốc lộ
I ra
tỉnh
Quảng
Trị đã
bị phá
sập hoàn
toàn.
Cầu Kho
Rèn, cầu
Phủ cam,
Cầu Bến
Ngự, 3
cây cầu
này
loang lổ
vết đạn
pháo
binh, đã
hư hại
đến hơn
70%,
không
thể sử
dụng
được nữa;
duy chỉ
còn cầu
Nam Giao
nối
thành
phố lên
vùng Từ
Ðàm Nam
Giao, và
cầu Ga,
nối
thành
phố lên
ga tàu
lửa Huế-
Ðà Nẵng,
Huế-Quảng
Trị
tương
đối còn
có thể
sử dụng
được.
Và cầu
Tràng
Tiền sáu
vài mười
hai nhịp
ngay
giữa
lòng
thành
phố Huế
chỉ còn
lại năm
vài, một
đầu vài
kia đã
chìm
xuống
dưới
dòng
sông
lạnh...
Cầu
Tràng
Tiền là
một kỷ
niệm vui
buồn,
khó quên.
Nó như
một phần
đời của
người
Huế.
Chiếc
cầu đó
là một
chứng
nhân
thầm
lặng của
lịch sử,
đã biết
bao đổi
thay của
nhiều
triều
đại,
nhiều
thế hệ,
của
những
thăng
trầm,
những
biến
động đau
thương,
mà tổ
quốc và
dân tộc
đã gánh
vác còng
lưng, và
quê
hương đã
gánh
chịu đọa
đày, nó
không
thể gãy
vì đó là
một hình
ảnh một
biểu
tượng
quá sâu
trong
lòng
người
Huế,
trong
lòng
những kẻ
Huế tha
hương,
mỗi khi
nhắc đến
nó, nhớ
đến nó
lại thổn
thức
nghẹn
ngào,
lại nhớ
da diết,
nhớ
cuống
quít,
muốn tìm
về chốn
cũ quê
xưa, nơi
có “Cầu
Tràng
Tiền sáu
vài mười
hai nhịp”,
nơi đó
là Huế
dấu yêu
muôn đời.
Có thể
nói, Cầu
Tràng
Tiền,
dòng
sông
Hương,
núi Ngự
Bình và
người
Huế cả
bốn là
một.
Cầu được
khởi
công xây
cất từ
Tháng
Năm năm
1889,
năm
Thành
Thái thứ
9, và
hoàn tất
vào
Tháng
Mười năm
1890, do
công ty
Eiffel
lãnh
thầu xây
cất với
tổn phí
800,000
Fr.
Như vậy
tính đến
nay, năm
2008 cây
cầu đã
được 119
năm tuổi
đời.
Vào lúc
khánh
thành,
cây cầu
được đặt
tên là
cầu
Thành
Thái.
Sau bao
nhiêu
biến đổi
thăng
trầm của
lịch sử
và của
Huế, cây
cầu được
đổi tên:
Cầu
Tràng
Tiền.
Tràng
Tiền,
tên thật
đơn giản,
vì cây
cầu được
xây tại
vùng Phú
Xuân,
Thuận
Hóa, nơi
thuở xưa
các đời
Chúa
Nguyễn
có xưởng
đúc tiền
tại đó.
Chỉ vậy
thôi.
Năm
1946,
khi quân
đội Pháp
tấn công
và tái
chiếm
Huế,
Việt
Minh rút
khỏi
thành
phố,
trong kế
hoạch
“Tiêu
thổ
kháng
chiến”
bọn
chúng đã
giựt sập
một vài
cầu
Tràng
Tiền.
Năm Mậu
Thân
1968,
lần thứ
hai, cây
cầu lại
bị bọn
chúng
giựt sập.
Vì thế
mà Huế
trong
những
ngày
tháng
tạm yên
bình
không
tiếng
súng, đã
có những
câu hò
đối, đáp,
vang
vọng
trên
dòng
sông
Hương
vào
những
đêm
khuya
trăng
sáng
trải dài
từ Linh
Mụ xuống
cầu Bạch
Hổ đến
Hoàng
Cung,
qua cầu
Tràng
Tiền
xuôi về
Ðập Ðá,
ngang
qua Vỹ
Dạ đến
tận thôn
Thọ Lộc,
tiếng hò
nghe như
một lời
oán
trách,
não nuột,
buồn lạ
lùng.
Câu hò
đối đi:
“Cầu
Tràng
Tiền bấy
nhiêu
năm qua
lại
Kể từ
đời
Thành
Thái đến
nay
Chạnh
lòng
biết mấy
ai ơi
Việc chi
nên nỗi
dang tay
giựt cầu.”
Câu hò
đáp lại:
“Lắm
chuyện
ly kỳ
hỏi làm
chi cho
tối dạ
Nhịp cầu
nghiêng
ngả chưa
lạ anh
ơi
Ðiện Cần
Chánh họ
đút họ
chơi
Khói bay
nghi
ngút tạn
Trời anh
thấy
không.”
(Cụ Ưng
Bình
Thúc Dạ)
Khu Quận
2, trung
tâm
thương
mại Huế
lại càng
điêu tàn
và tang
thương
hơn. Dãy
phố nối
dài từ
bến xe
Nguyễn
Hoàng
xuống
đến
đường
Trần
Hưng Ðạo,
qua
đường
Phan Bội
Châu,
đường
Hàng Bè,
đến khu
Gia Hội
đường
Chi Lăng,
khu
Trung Bộ,
đường
Bạch
Ðằng,
đến tận
trường
trung
học Gia
Hội, qua
khu Bãi
Dâu,
nhiều
cửa tiệm
đã sập
đổ,
nhiều
cửa hàng
có đến
hằng
ngàn vết
đạn, và
đầy
những
xác
người và
những mồ
chôn tập
thể.
Trở vào
quận I
thành
nội Huế,
nơi đây
trong 22
ngày
trận
chiến
nặng nề
nhất,
cộng
quân đã
bị Quân
lực VNCH
vây chặt,
bọn
chúng
không
còn
đường
rút lui
nên cố
phá vòng
vây của
TQLC
Việt Nam
Cộng Hòa,
Nhảy Dù,
Sư Ðoàn
I BB.
Trận
chiến
cam go
và ác
liệt,
kéo dài
nhiều
ngày.
Thành
nội Huế
với
những
cửa
thành:
Thượng
Tứ,
Chánh
Tây,
Ðông Ba,
Cửa Trài,
khu Kỳ
Ðài tất
cả đều
bị tàn
phá, sụp
đổ nặng
nề, có
nơi
không
còn viên
gạch nào
chồng
lên viên
nào.
Khu vực
Tây Linh,
Tây Lộc,
đường
Hòa Bình,
Ðinh Bộ
Lĩnh cửa
Thượng
Tứ, cửa
Ðông Ba
tất cả
điêu tàn
sụp đổ,
xác
người đã
sinh
thối.
Tang
thương
và đau
đớn nhất
là khu
vực Ðại
Nội, Tử
Cấm
Thành,
một di
tích
lịch sử
của
triều
đại nhà
Nguyễn
đã bị
phá hủy
nặng nề. Ðã hơn 150 năm trước, trong triều đại Vua Minh Mạng Bà Huyện Thanh Quang hoài vọng nhà Lê đã viết trong bài 'Thăng Long hoài cổ':
“Lối xưa
xe ngựa
hồn thu
thảo
Ngõ cũ
lâu đài
bóng
tịch
dương
Ðá vẫn
trơ gan
cùng tuế
nguyệt
Nước còn
cau mặt
với tang
thương.”
Thì năm
1968 cố
đô Huế,
Ðại Nội,
Tử Cấm
Thành
còn điêu
tàn
khủng
khiếp,
rùng rợn
hơn
Thăng
Long
ngày xưa
ngàn lần.
Và trong
những
ngày
kinh
hoàng cơ
cực của
năm Mậu
Thân
1968,
dân
chúng
Huế đã
tỵ nạn
trên
chính
ngay
thành
phố Huế,
nơi chôn
nhau cắt
rốn của
họ.
Tất cả
các
trường
Quốc Học,
Ðồng
Khánh,
Kiểu Mẫu,
Lê Lợi,
Thiên
Hựu,
Thượng
Tứ, Hàm
Nghi,
Dòng
Chúa Cứu
Thế, nhà
thờ Phủ
Cam đã
là những
trại tỵ
nạn.
Hằng
ngàn
người
cho mỗi
nơi. Ðàn bà, trẻ thơ, ông già, bà lão, họ kinh hoàng, thất thần, đói khát, ôm nhau để cùng chết, cùng sống trong những giờ phút bi thương đó, khổ nạn đã vút tận trời xanh, cùng cực đã xuống tận đáy sâu, kể sao cho hết, viết sao cho cùng. Ôi! Huế đau thương, Huế đọa đày. Huế địa ngục trần gian có thật của năm Mậu Thân 1968.
Rồi
những
ngày
tháng kế
tiếp,
Huế
trong
cảnh
điêu tàn
còn phải
gánh
chịu
thêm
tang tóc
chia lìa.
Có thể
nói hầu
như
không có
gia đình
nào
không có
thân
nhân bị
VC sát
hại hoặc
bắt đi,
vợ mất
chồng,
con mất
cha, anh
em mất
nhau,
bạn gần,
bạn xa,
hàng xóm
láng
giềng
vắng
bóng.
Huế đã
sống
trong
nỗi hy
vọng
mong
manh, và
niềm đớn
đau
tuyệt
vọng tận
cùng.
Mọi
người đã
sống
trong
khắc
khoải
chờ đợi
người
thân trở
về, và
trong
nghẹn
ngào,
đớn đau,
xót xa
khi đã
tìm ra
thân xác
của thân
nhân nằm
chết co
quắp bên
vệ đường
Lê Lợi,
Duy Tân,
Nguyễn
Huệ,
Trần
Hưng Ðạo
Chi Lăng
Nhà Bè,
Ðinh Bộ
Lĩnh,
Hòa Bình,
Ngã tư
Anh Danh,
Miếu Âm
Hồn,
chết tức
tưởi
trong
lùm cây
bụi bỏ,
dưới hố
sâu hầm
cạn, tại
trường
Trung
học Gia
Hội, Bãi
Dâu, tại
cửa Ðông
Ba,
Thượng
Tứ Nhà
Ðồ, bên
bờ khe
vực thẳm,
dọc theo
Khe Ðá
Mài, Khe
Trái,
Khe Lụ,
tại vùng
Lăng Xá
Bàu,
Lăng xá
Cồn v.v...
Và như
ông Tú
Trần Tế
Xương đã
nói:
“Bừng
con mắt
dậy, ngỡ
mình
chiêm
bao”.
Quả đúng,
buổi
sáng
thức
giấc,
chợt
thấy
thành
phố Huế
phủ một
màu tang
trắng:
Hằng
đoàn
người
khăn
tang áo
chế,
theo sau
hằng
trăm cỗ
quan tài,
u buồn,
chậm
bước dọc
cầu
Tràng
Tiền
theo
đường Lê
Lợi lên
nghĩa
trang Ba
Ðồn cạnh
đàn Nam
Giao,
nơi mồ
chôn tập
thể của
hàng
ngàn nạn
nhân vô
tội bị
bọn quỷ
dữ Việt
Cộng tàn
sát.
Còn gì
đau
thương
hơn hỡi
trời,
hỡi đất,
hỡi sông
Hương
núi Ngự,
hỡi Cung
miếu
triều
xưa, hỡi
hồn
thiêng
sống núi,
hỡi anh
linh
tiền
nhân sao
nỡ đọa
dày dân
tộc đến
tận cùng
khổ đau.
Có thể
là một
nghiệp
báo
chăng?
Có thể
ngày xưa
trên
đường
Nam tiến
mở mang
bờ cõi,
các vị
Tiên Ðế
đã quá
mạnh tay
với dân
tộc khác
để ngày
nay con
cháu
phải trả
món nợ
oan
khiên
này?
Huế
trong
tình
trạng
gạo
thiếu,
nhu yếu
phẩm
thiếu,
điện
thiếu,
nước
thiếu,
dân Huế
đang
quằn
quại, cơ
cực
trong
các trại
tỵ nạn.
Xác
người
sình
thối
trong
thành
phố, và
hầu như
trong
các trại
tỵ nạn
không
nơi nào
có nhà
vệ sinh
cho đồng
bào, họ
phải tùy
cơ ứng
biến vì
thế
không
một trại
ty nạn
nào
không
tỏa mùi
hôi thứ
đó.
Nguy cơ
những
cơn bệnh
truyền
nhiễm có
thể xẩy
ra bất
cứ lúc
nào.
Những
ngày này
thời
tiết lại
quá xấu,
bầu trời
thật
thấp,
phủ một
màu xám,
từng cơn
mưa phùn
trải dài
qua
thành
phố,
ngày này
sang
ngày
khác,
lạnh cắt
da. Ông
già, bà
lão, trẻ
thơ, run
rẩy
trong
chiếc áo
mong
manh, họ
đang bị
đói và
lạnh
trong
các trại
tỵ nạn.
Huế
trong đổ
nát điêu
tàn,
trong
đau
thương
quằn
quại.
Huế nằm
bất động
như
người
bệnh bán
thân bất
toại,
tưởng
chừng
như
không
bao giờ
gượng
dậy nổi.
Một số
ít người
Huế đã
nói:
“Huế chỉ
để mà
nhớ, chứ
không để
mà ở”,
và họ đã
bỏ Huế
ra đi...
***
Thế
nhưng,
có một
người,
mặc dầu
thân
sinh là
người
Bắc,
nhưng
ông ta
lại được
sinh ra
tại Huế,
lớn lên
tại Huế,
rời khỏi
Huế từ
độ quê
hương
chìm đắm
trong
binh lửa.
Nhưng
mỗi khi
Huế gặp
nạn, dân
Huế gặp
nạn, ông
lại trở
về Huế
với tấm
chân
tình và
lòng
thiết
tha cứu
Huế và
giúp
đồng bào
Huế.
Sáng hôm
nay,
ngồi
viết
những
dòng chữ
về ông
mà lòng
tôi
không
nén nổi
xúc động.
Tưởng
nhớ đến
ông, một
người
anh cả
trong
lực
lựợng
CSQG,
không
những
tôi mà
còn một
số lớn
anh em
đồng đội
trong
lực
lượng
CSQG
muôn đời
thương
tiếc và
kính
trọng
ông.
Hùm chết
để da,
người ta
chết để
tiếng.
Bây giờ
ông đã
đi khuất,
không
còn
trong
cuộc đời
phiền
muộn này
nữa,
nhưng
Ông đã
để lại
tiếng
tốt muôn
đời, để
lại sự
kính
trọng,
và lòng
biết ơn
của rất
nhiều
người
dân Huế.
Ông
chính là
Thiếu
Tướng
Nguyễn
Ngọc
Loan, Tư
Lệnh Lực
Lượng
CSQG
(1966-
Tháng
Năm
1968).
Thiếu
tướng
Nguyễn
Ngọc
Loan
sinh
ngày 1
Tháng
Hai 1930
tại Huế,
tốt
nghiệp
khóa 1
trường
Võ bị
Thủ Ðức.
- 1953
Thiếu
Tướng
Loan thụ
huấn
khóa phi
công tại
trường
Không
quân
Salon de
Provencce
tại Pháp,
tốt
nghiệp
với bằng
Kỹ Sư
Hàng
Không.
Ông là
một
trong
những
phi công
lái khu
trục cơ
đầu tiên
của VNCH.
- 1960
ông giữ
chức vụ
CHT Phi
đoàn 2
Quan sát
tại Nha
Trang.
- 1964,
vinh
thăng
Ðại Tá,
Tư Lệnh
Phó
Không
Quân
VNCH.
Ngày 11
Tháng
Hai
1965,
Ðại tá
Nguyễn
Ngọc
Loan đã
dẫn đầu
những
phi đoàn
A1
Skyraider
vượt vỹ
tuyến 17
oanh tạc
miền Bắc
Việt Nam
trong
chiến
dịch Mũi
Tên Lửa
(Flamming
Dart).
Chưa bao
giờ
trong
cuộc
chiến
đầy bi
thảm của
quê
hương mà
lòng yêu
nước và
tinh
thần
chiến
đấu
chống
Cộng Sản
của dân
quân Trị
Thiên
lại lên
cao như
vậy. Dân
chúng,
học sinh,
sinh
viên Huế
đã tổ
chức
biểu
tình lớn
để hoan
hô, vinh
danh
những
người
hùng
Không
Lực VNCH,
những
Kinh Kha
của thời
đại, đã
vượt
sông
Gianh
xông vào
đất địch.
Những
tên tuổi
như
Nguyễn
Ngọc
Loan,
Phạm Phú
Quốc...
một thời
đã được
đồng bào
trân
trọng
vinh
danh.
Tôi bấy
giờ chỉ
là viên
sĩ quan
trẻ, cấp
Thiếu úy,
được
biết tên
ông từ
dạo đó.
Sau cuộc
hành
quân Mũi
Tên Lửa
11 Tháng
Hai
1965,
Ðại tá
Nguyễn
Ngọc
Loan
được bổ
nhiệm về
làm Tổng
Giám Ðốc
CSQG,
Giám Ðốc
Nha An
Ninh
Quân Ðội,
Giám đốc
Phủ Ðặc
Ủy Trung
Ương
Tình Báo.
Tháng Ba
1966
miền
Trung
Huế dậy
sóng,
biến
động lớn
xẩy ra
vì tham
vọng
điên
cuồng,
bất chấp
vận mệnh
quốc gia-
dân tộc
say mê
quyền
lực của
những kẻ
đội lốt
tu hành,
cam tâm
làm tay
sai cho
CSVN đã
ngỡ mình
là “anh
hùng cái
thế”,
liên
tiếp
khống
chế, gây
bất ổn
chính
trị cho
đất nước.
Với sự
nhượng
bộ của
Mỹ, liên
tục thay
đổi điều
hành các
“triều
đại”, để
dần
thiết
lập
quyền
lực đen
qua các
cuộc
biểu
tình,
xuống
đường
của các
Phật tử
tranh
đấu. Từ
triều
đại
Dương
Văn
Minh,
đến
Nguyễn
Khánh,
qua
triều
đại
Khánh-Minh-Khiêm,
đến
triều
đại Trần
Văn
Hương,
Phan Huy
Quát,
cho đến
thời
gian đầu
của
chính
quyền
Tướng
Thiệu-Kỳ,
tất cả
đều bị
thao
túng,
sắp đặt
nhân sự.
Ðến khi
tình
hình
vượt quá
sự chịu
đựng của
chính
quyền
Johnson,
và đất
nước
Việt Nam
Cộng Hòa
trên bờ
vực thẳm
để cho
CSVN
thôn
tính,
các
Tướng
lãnh
phẫn nộ
thì
Henry
Cabot
Logde
không
thể nào
nghe lời
và chiều
chuộng
bọn name
vùng
ngông
cuồng
được nữa.
Bị phía
Mỹ từ
chối
không
ủng hộ,
từ
Saigòn,
chúng
bay ra
Huế cùng
đám cán
bộ Cộng
Sản nằm
vùng quá
lâu
trong
Phật
giáo như
Hoàng
Phủ Ngọc
Tường,
Nguyễn
Ðắc Xuân,
Phan Duy
Nhân,
Hoàng
Phủ Ngọc
Phan v.v...
và được
sự hỗ
trợ mạnh
mẽ của
Bộ Chính
Trị đảng
Cộng Sản
Việt Nam
qua tên
Trung tá
điệp
viên
Hoàng
Kim
Loan,
bọn
chúng
mưu đồ
muốn
biến
miền
Trung
thành
một vùng
trái độn,
và âm
mưu biến
Kinh đô
Huế ngày
xưa sẽ
là thủ
đô của
đám MTGP
Miền
Nam.
Cuộc
biến
động xẩy
ra từ
Tháng Ba
1966, và
kéo dài
trong
100 ngày.
Tình
hình rối
loạn
từng giờ,
từng
ngày,
công sở
của
chính
quyền bị
đám phản
loạn
chiếm
giữ, cơ
sở Ngoại
giao
đoàn bị
đốt phá,
Quân đội,
Công
chức,
Cảnh sát,
ngã theo
đám
tranh
đấu.
Thành
phố
không
còn
Chính
quyền,
không
còn luật
pháp
quốc gia,
đám
tranh
đấu muốn
vu khống,
muốn
đánh đập,
muốn bắt
bớ ai
tùy
thích.
Dân
chúng
Huế kinh
hoàng
hỗn loạn,
đời sống
mỗi ngày
mỗi cơ
cực, họ
sống
trong
niềm
tuyệt
vọng,
buồn
thảm
nhìn
tương
lai vô
định...
Chính
phủ
Trung
Ương đã
liên tục
cử ra
miền
Trung
bốn vị
tướng
lãnh với
chức Tư
Lệnh
Quân
Ðoàn để
ổn định
tình
hình
miền
Trung,
nhưng
tình
hình vẫn
mỗi ngày
mỗi rối
loạn
thêm, họ
bất lực
bó tay.
Trung
Tướng
Nguyễn
Chánh
Thi phải
ngã theo
đám phản
loạn,
chống
lại
chính
phủ
Trung
ương;
đến
Thiếu
Tướng
Nguyễn
Văn
Chuân,
rồi đến
Trung
Tướng
Tôn Thất
Ðính,
ông này
hoảng sợ
phong
trào
tranh
đấu phải
chạy
trốn vào
BTL/Sư
đoàn
TQLC Hoa
Kỳ tại
Ðà Nẵng
xin tỵ
nạn, rồi
đến
Thiếu
Tướng
Huỳnh
Văn Cao.
Thiếu
Tướng
Cao đã
bị viên
Trung úy
Sư Ðoàn
I BB ly
khai
Nguyễn
Ðại Thức
bắn,
cũng may
ông
không bị
trúng
đạn và
cuối
cùng
Thiếu
Tướng
Cao cũng
vào xin
tỵ nạn
tại BTL/TQLC
Hoa Kỳ
tại Ðà
Nẵng.
Với một
tình
hình rối
loạn và
hầu như
tuyệt
vọng tại
miền
Trung
như vậy,
bốn
Tướng đã
bỏ chạy,
Ðại Tá
Nguyễn
Ngọc
Loan,
Tổng
Giám Ðốc
CSQG
được
Chính
phủ giao
trọng
trách ổn
định và
tái lập
an ninh
trật tự
tại miền
Trung,
đặc biệt
là Ðà
Nẵng và
Thừa
Thiên
Huế.
Theo Ðại
tá Trần
Minh
Công,
Viện
Trưởng
Học Viện
CSQG/
VNCH, (vào
thời
điểm đó
Ðại Tá
Công là
một Sĩ
quan trẻ
của LL/CSQG
cùng đi
với Ðại
tá Loan
ra Ðà
Nẵng)
thì lực
lượng
của BCH/hành
quân dẹp
loạn của
Ðại Tá
Loan gồm
có Chiến
Ðoàn
TQLC/VNCH,
được
tăng
phái
thêm một
tiểu
đoàn
Nhảy Dù/VNCH,
lực
lượng
hành
quân
được
không
vận ra
Ðà Nẵng
đã phải
ở trong
phi
trường
mất hai
ngày mà
không
thể tung
quân ra
được vì
Ðại tá
Loan
muốn
tránh
một cuộc
đổ máu
xẩy ra,
bởi lẽ
Trung
đoàn 51
BB/VNCH
ly khai
đang bố
trí và
sẵn sàng
tấn công
lực
lượng
của Ðại
Tá Loan.
Ðấy là
chưa nói
đến bên
cạnh
Trung
Ðoàn 51
BB ly
khai còn
có tiểu
đoàn 11/BÐQ
của Ðại
úy
Nguyễn
Thừa Dzu
cũng đã
hợp tác
với lực
lượng
tranh
đấu tại
Ðà Nẵng.
Thiếu
Tướng KQ
Nguyễn
Cao Kỳ,
lúc đó
là Chủ
Tịch Ủy
Ban Hành
Pháp
Trung
Ương, đã
bay ra
Ðà Nẵng
họp cùng
Ðại Tá
Loan.
Thiếu
Tướng Kỳ
có ý
định cho
chiến
đấu cơ
của
Không
Quân
VNCH cất
cánh
nhắm vào
BCH của
Trung
đoàn 51
BB ly
khai,
chỉ mục
đích
cảnh cáo,
nhưng
gặp ngay
phản ứng
về phía
Chính
Phủ Hoa
Kỳ, qua
Tư lệnh
lực
lượng
TQLC/Hoa
Kỳ tại
Ðà Nẵng,
Trung
Tướng
Waltz,
đã gởi
một
thông
điệp cho
Thiếu
Tướng Kỳ: - Nếu chiến đấu cơ của Không quân VNCH cất cánh, ông ta sẽ cho chiến đấu cơ Hoa Kỳ cất cánh ngăn chận, bắn hạ ngay.Ðược hỏi lý do tại sao? Theo ông Trần Minh Công thì Ðại Tá Nguyễn Ngọc Loan cho rằng có lẽ Hoa Kỳ đã buộc Chính phủ VNCH phải chấp nhận một số điều kiện nào đó của họ thì họ mới chịu để yên cho Chính phủ VNCH ra tay dẹp đám phản loạn; và câu kết luận chua xót của ông Trần Minh Công: “Thật tình không hiểu nổi, đây là loại Ðồng Minh kiểu gì”.
Cũng
theo ông
Trần
Minh
Công,
lúc bấy
giờ tình
hình tại
Ðà Nẵng
rất căng
thẳng,
nguy
hiểm, và
đầy bất
trắc. Có
thể đánh
nhau lớn
trong
thành
phố Ðà
Nẵng
giữa lực
lượng
hành
quân dẹp
loạn của
Ðại Tá
Loan gồm
TQLC,
Nhảy Dù
VNCH, và
quân đội
ly khai
gồm có
Trung
Ðoàn 51
BB, Tiểu
Ðoàn 11/BÐQ
của Ðại
úy
Nguyễn
Thừa Dzu,
cùng với
đám
tranh
đấu ô
hợp
nhưng
sắt máu,
cuồng
tín, mà
đại đa
số là cơ
sở Việt
Cộng
thuộc 2
Ðại Ðội
SV Phật
Tử Quyết
Tử do
chính SV
Nguyễn
Ðắc Xuân
chỉ huy,
từ Huế
vào Ðà
Nẵng
tăng
cường
cho lực
lượng
tranh
đấu tại
chùa
Tỉnh hội
Ðà Nẵng,
bọn
chúng đã
được
trang bị
vũ khí.
Ðể tránh
đổ máu
giữa phe
mình
đánh phe
ta, Ðại
Tá Loan
đã dùng
những
người
bạn thân
của Ðại
úy
Nguyễn
Thừa Dzu
bí mật
tiếp xúc
và chiêu
dụ đại
úy Dzu
trở về
với
chính
phủ. BÐQ
là một
trong
những
binh
chủng
thiện
chiến
nhất của
QLVNCH,
Tiểu
đoàn BÐQ
của Ðại
úy Dzu
lại đang
chiếm
giữ
thành
phố Ðà
Nẵng,
không
chiêu dụ
được
tiểu
đoàn này
thì đại
họa sẽ
xẩy ra.
Người
phụ
trách
công tác
chiêu dụ
Ðại úy
Nguyễn
Thừa Dzu
là Ðại
Úy
Nguyễn
Tự Cường.
Ðại úy
Nguyễn
Tự Cường
xuất
thân
Khóa 7
Võ bị Ðà
Lạt, ông
là
chuyên
viên
tình báo
phụ
trách
tình báo
hải
ngoại
vùng Bắc
Lào.
Sau đảo
chánh
1963,
ông bị
bắt giữ
và giam
tại Cục
An Ninh
Quân Ðội.
Theo lời
ông kể
lại với
tôi:
- Sau
đảo
chánh
1963,
anh bị
bắt vì
là người
của Cậu
Cẩn. Tù
một năm
được thả
ra, đói
quá, mấy
thằng Mỹ
trả tiền
và xúi
dại anh
tham gia
đảo
chánh,
chỉnh lý
lung
tung,
lại bị
An Ninh
Quân đội
bắt lại,
lần này
bị giam
gần 2
năm.
Ðang ở
tù thì
bỗng cửa
tù mở ra,
được dẫn
đi trình
diện ông
“Sáu Lèo”,
anh đâu
biết Sáu
Lèo là
ai, hỏi
viên Sĩ
quan đi
theo thì
mới biết
là Ðại
Tá
Nguyễn
Ngọc
Loan Cục
Trưởng
Cục ANQÐ.
Và cuộc
gặp mặt
với anh
Sáu Lèo
xẩy ra
như sau:
- Ð...
Cụ anh,
làm cái
gì mà
tham gia
đảo
chánh
lung
tung để
phải
ngồi tù.
- Thưa
Ðại tá,
em làm
gì đâu:
Sau đảo
chánh
1963, em
bị bắt
vì tội
người
của Ông
Cậu. Một
năm sau
được thả
ra, đói
quá tham
gia
chỉnh lý
kiếm tí
tiền còm.
- Mày
quen
Nguyễn
Thừa Dzu
không?
- Bạn
thân.
- Nó
theo đám
tranh
đấu,
Tiểu
đoàn 11/BÐQ
của nó
đang
chiếm
thị xã
Ðà Nẵng.
Mày ra
Ðà Nẵng
dụ nó
trở về,
được
không?
- Em làm
được.
- Làm
được,
cho làm
lớn, còn
không
thì về
lại Cục
ở tù
tiếp.
- Trình
Ðại tá,
làm được
nhưng
phải có
điều
kiện.
- Ðiều
kiện gì?
- Trước
khi đi
Ðà Nẵng,
Ðại tá
phải cho
em truy
lãnh 3
năm
lương.
“Có thực
mới vực
được đạo”.
Bạch hóa
hồ sơ,
không
ghi vào
quân bạ.
Ðại tá
làm được
hai
chuyện
đó thì
em đi Ðà
Nẵng dụ
thằng
Dzu. Còn
không em
vào tù
tiếp,
không đi.
- Ðược.
Ðại úy
Cường đã
gặp Ðại
úy
Nguyễn
Thừa Dzu,
và kết
quả là
Ðại úy
Dzu rút
Tiểu
Ðoàn 11/BÐQ
ra khỏi
thành
phố Ðà
Nẵng,
tránh
được
cuộc đổ
máu
không
cần
thiết.
Ðại úy
Nguyễn
Tự Cường
ngay sau
đó đã
được Ðại
tá Loan
bổ nhiệm
làm
Trưởng
ty An
Ninh
Quân đội
thị xã
Ðà Nẵng
(1966-1975).
Ông và
Ðại tá
Loan
tính
tình có
nhiều
điểm hợp
nhau.
Trung Tá
Nguyễn
Tự Cường
cũng đã
theo
Thiếu
Tướng
Nguyễn
Ngọc
Loan, đi
vào miền
vĩnh cửu
vào
Tháng
Mười Hai
2007 tại
Nam
Cali.
Phần Ðại
úy
Nguyễn
Thừa Dzu,
ông theo
Ðại Tá
Loan dẹp
xong vụ
biến
động
miền
Trung,
về
Sàigòn
và được
Ðại tá
Loan bổ
nhiệm đi
làm
Trưởng
Ty CSQG
một
trong
những
quận tại
Chợ Lớn.
Tuy vậy,
súng đã
nổ và đã
có người
chết.
Khi ông
Trần
Minh
Công
tiến
quân vào
Chùa
Tỉnh Hội
Ðà Nẵng,
ông đã
phát
giác có
mười mấy
xác chết
đã sình
thối
trong
nhà kho
của chùa,
và chính
ông cùng
nhân
viên
thuộc
quyền đã
vác
những
thi hài
sình
thối này
ra xe
đem chôn.
Ðại Tá
Nguyễn
Ngọc
Loan đã
ổn định
được
tình
hình tại
Thị xã
Ðà Nẵng,
ông rời
Ðà nẵng
ra Huế
tiếp tục
nhiệm vụ
nặng nề
đầy hiểm
nguy là
dẹp loạn
tại Huế
mà chính
phủ đã
giao
trọng
trách
này cho
ông.
Người
tiếp tục
ổn định
tình
hình an
ninh
trật tự
tại Ðà
Nẵng là
Quận
Trưởng
Cảnh sát
Trần
Minh
Công,
tân
Trưởng
Ty CSQG
thị xã
Ðà Nẵng,
người mà
Ðại Tá
Loan tin
cậy vào
tài năng
và lòng
dũng cảm.
Quận
Trưởng
Cảnh Sát
Trần
Minh
Công
không
phụ lòng
của Ðại
tá Loan,
ông ta
đã hoàn
tất
nhiệm vụ
Ðại tá
Loan
giao phó
cho ông.
Ðó là
một
nhiệm vụ
nặng nề,
tiếp tục
ổn định
tình
hình rối
loạn.
Chỉ một
năm sau,
tình
hình Ðà
Nẵng đã
hoàn
toàn ổn
định.
Ðại Tá
Loan lại
thuyên
chuyển
ông vào
SàiGòn
giữ chức
vụ
Trưởng
Ty CSQG
Quận II
Thủ đô
Sàigòn,
để rồi
Mậu Thân
1968,
trong 2
đợt tổng
công
kích của
VC vào
Sàigòn,
Thiếu
tướng
Nguyễn
Ngọc
Loan Tư
Lệnh
Cảnh Sát
Quốc Gia
và Quận
Trưởng
Trần
Minh
Công lại
sát cánh
cùng
nhau
tung lực
lượng
CSQG
phản
công
ngăn
chận 2
đợt tấn
công của
VC vào
Sàigòn
ngay
những
giờ phút
đầu tiên.
***
Tôi trở
lại vụ
Tướng
Loan dẹp
loạn
miền
Trung:
Ngày 8
Tháng
Sáu 1966
Biệt
Ðoàn 222
Cảnh sát
Dã chiến
thuộc
BTL/CSQG
do Trung
tá Phạm
Huy Sảnh
chỉ huy
đổ quân
chiếm ty
CSQG Thị
xã Huế.
Ðại Tá
Nguyễn
Ngọc
Loan và
bộ tham
mưu hành
quân dẹp
loạn đến
Huế ,
ngày 9
Tháng
Sáu
1966.
Lực
lượng
hành
quân
chiếm
lại Tòa
Hành
Chánh
của Tỉnh
Thừa
Thiên và
thị xã
Huế, Ðại
Tá Loan
đặt BCH
hành
quân tại
đó.
Tôi
trình
diện Ðại
tá Loan,
nhận
công tác.
Ðó là
lần đầu
tiên tôi
gặp ông.
Huế lúc
bấy giờ
hoàn
toàn nằm
trong
bọn tay
sai của
Bộ Chính
Trị đảng
Cộng Sản
Việt
Nam, qua
tên
Trung Tá
điệp
viên
Hoàng
Kim
Loan,
Thành ủy
viên
Thành ủy
Huế, bọn
này định
biến Huế
thành
vùng
trái độn.
Chiến
trường
Huế đã
mở, mặt
trận
Trị-Thiên-Huế
vừa
chính
trị vừa
quân sự
sẽ cam
go, nguy
hiểm và
đầy bất
trắc
đang chờ
đợi Ðại
Tá
Nguyễn
Ngọc
Loan
nhảy vào
thử lửa.
Dọc dãy
Trường
Sơn,
cạnh
sườn
Thừa
Thiên-Huế,
lực
lượng
quân sự
của Hà
Nội, Sư
Ðoàn
324B
thuộc
Quân Khu
Trị
Thiên
đang ém
quân chờ
đợi biến
cố lớn
xẩy ra
tại
thành
phố Huế
là xua
đại quân
bôn tập
tấn công
và chiếm
Huế. Nếu
Ðại tá
Nguyễn
Ngọc
Loan
không
kịp thời
cứu Huế,
có lẽ
Huế đã
mất vào
tay Cộng
sản mà
không
cần phải
đợi đến
Mậu Thân
1968.
Tại
thành
phố Huế,
Sư Ðoàn
I/BB là
một
trong
những
đơn vị
tinh
nhuệ
nhất của
QLVNCH
hiện
đang
dưới sự
chỉ huy
của
Chuẩn
Tướng
Phan
Xuân
Nhuận.
Có thể
nói một
số lớn
các đơn
vị của
Sư Ðoàn
này cùng
với Tư
Lệnh,
Chuẩn
Tướng
Phan
Xuân
Nhuận,
đã ly
khai với
chính
phủ
trung
ương,
phục vụ
cho mưu
đồ đen
tối và
mộng
tranh bá
đồ vương
của bọn
tay sai
CSVN
đang chờ
đợi Ðại
Tá Loan.
Cái gọi
là lực
lượng
tranh
đấu lúc
ấy có 4
đại đội
Sinh
viên
Quyết Tử
do tên
Nguyễn
Ðắc Xuân
SV Sư
phạm Hán
Việt chỉ
huy. Bốn
đại đội
này đã
được
Chuẩn
Tướng
Phan
Xuân
Nhuận
đưa vào
TTHL/Văn
Thánh
của Sư
Ðoàn
I/BB
huấn
luyện
quân sự,
và trang
bị vũ
khí. Bọn
chúng
phối hợp
chặt chẽ
với các
đơn vị
quân đội
ly khai,
cũng
đang chờ
đợi Ðại
Tá
Nguyễn
Ngọc
Loan.
Và các
liên
đoàn
Công
chức
Phật Tử,
giáo
chức
Phật Tử,
Tiểu
thương
Phật Tử
của các
chợ Ðông
Ba, Bến
Ngự, An
Cựu cũng
đang chờ
đợi Ðại
Tá
Nguyễn
Ngọc
Loan,
lực
lượng
này
khoảng
vài chục
ngàn
người.
Hai
phong
trào
quần
chúng
đấu
tranh do
tên
Trung tá
Ðiệp
viên
Hoàng
Kim Loan
thành
lập cũng
đang chờ
đợi Ðại
Tá
Nguyễn
Ngọc
Loan đó
là:
-Phong
trào
Sinh
Viên
Tranh
Thủ Hòa
Bình do
sinh
viên Y
Khoa Ðại
học Huế
Tôn Thất
Kỳ chỉ
huy.
-Phong
trào SV
Tranh
thủ Dân
Chủ do
sinh
Luật
Khoa
Nguyễn
Hữu Giao
chỉ huy.
Ðau lòng
và
nghiệt
ngã nhất
là những
thằng
con bất
hiếu của
Ðại Tá
Nguyễn
Ngọc
Loan
cũng đã
nghe lời
quyến rũ
của tay
sai
Hoàng
Kim Loan
quay lại
chống
ông. Ðó
là Lực
Lượng
CSQG
Phật Tử
thuộc Ty
Cảnh Sát
quốc Gia
Thừa
Thiên và
Thị xã
Huế, lực
lượng
này gồm
khoảng
trên 5
ngàn Sĩ
quan và
Cảnh Sát
viên.
Con phản
lại cha,
theo
giặc,
làm loạn,
thật bất
hạnh cho
Ðại Tá
Loan và
lực
lượng
CSQG/
VNCH.
Và cuối
cùng
viên Tư
Lệnh của
Phong
trào
tranh
đấu đang
chờ đợi
Ðại Tá
Nguyễn
Ngọc
Loan
trong
trận thư
hùng một
còn một
mất này
là Ðiệp
viên của
Hà Nội
Trung Tá
Hoàng
Kim
Loan.
Ðại Tá
Nguyễn
Ngọc
Loan,
một anh
hùng hào
kiệt của
binh
chủng
Không
quân
VNCH,
một hiệp
sĩ Kinh
Kha của
thời đại,
đã vượt
sông
Gianh
Bắc phạt,
trong
chiến
dịch
“Mũi Tên
Lửa”,
giờ đây
Tháng
Sáu
1966,
Kinh Kha
đang
trực
diện với
chiến
trường
cay
nghiệt.
Ông sẽ
nhảy vào
chiến
trường
này, chỉ
huy trận
đánh này,
trận
đánh sẽ
còn cam
go hơn
khi dẫn
đầu Phi
Ðoàn
Không
Quân
VNCH lao
mình vào
đất giặc.
Hoàng
Kim Loan
đã sử
dụng
niềm tin
tôn giáo
của 80%
dân
chúng
Huế để
gài Ðại
Tá
Nguyễn
Ngọc
Loan vào
chiếc
bẫy sập
này, và
nỗi khó
khăn của
ông là
một số
lớn dân
chúng
Huế lúc
bấy giờ
đã vì
cuồng
tín nghe
theo lời
mấy ông
sư VC
nằm vùng,
không
phân
biệt
được lý
lẽ đúng
sai.
Ðau lòng
thay,
Ðấng từ
bi cũng
đã bị
hai tên
này lợi
dụng,
làm bẫy
sập ngăn
chận Ðại
Tá Loan:
Bàn thờ
Phật đã
xuống
đường.
Thắng
trận
đánh này
chưa hẳn
là một
vinh
quang,
nhưng
bại trận
đánh này
là một
báo hiệu
đầu hàng
sớm hơn
ngày 30
Tháng Tư
1975 của
dân
chúng
miền Nam
Việt
Nam, của
Chính
phủ VNCH
trước sự
xâm lăng
của Cộng
Sản Hà
Nội, và
chính
ngay bản
thân ông,
Ðại Tá
Nguyễn
Ngọc
Loan,
đời binh
nghiệp
của ông
sẽ giống
như số
phận của
5 tướng
Thi,
Nhuận,
Chuân,
Ðính,
Cao.
Thế
nhưng,
thật
không hổ
danh anh
“Sáu Lèo”,
Ðại tá
Loan đến
Huế trực
diện với
một lực
lượng
phản
loạn to
lớn và
hùng hậu
như vậy.
Ông thật
can đảm,
bình
tĩnh
nhảy vào
chiến
trường
khắc
nghiệt
và cam
go này,
tung
những
đòn phản
công lúc
hư, lúc
thực, y
như Lệnh
Hồ Xung
trong
Tiếu
Ngạo
Giang Hồ
của Kim
Dung
nghiêng
ngả thân
người
tung Tửu
quyền
chế ngự
địch thủ.
Và ông
đã chế
ngự được,
dẹp tan
đám phản
loạn:
- Không
có đổ
máu xảy
ra.
- Thu
hồi Sư
Ðoàn
I/BB lại
cho quân
lực.
Giao Sư
Ðoàn
I/BB cho
Ðại Tá
Ngô
Quang
Trưởng
Tham Mưu
trưởng
Sư Ðoàn
Nhảy Dù
VNCH chỉ
huy và
chỉnh
đốn lại.
- Thâu
hồi lại
Huế cho
chính
Phủ
Trung
Ương từ
tay sai
của CSVN,
mà trực
tiếp là
Trung tá
Ðiệp
viên Hà
Nội
Hoàng
Kim
Loan.
- Bắt
giữ
Chuẩn
Tướng
Phan
Xuân
Nhuận.
- Bắt
giữ
Trung
Tướng
Nguyễn
Chánh
Thi.
- Và
khoảng
trên một
ngàn các
thành
phần
tranh
đấu chủ
chốt,
vừa dân
sự và
quân sự
bị bắt
đem vào
Cục ANQÐ
và BTL/CSQG
xét sử.
- Thanh
lý môn
hộ và
tái tổ
chức gia
đình
CSQG tại
BCH/CSQG
Thừa
Thiên
Huế.
Ðiều
quan
trọng
nhất là
đem lại
bình yên
và ổn
định cho
đời sống
đồng bào
Thừa
Thiên-Huế.
Bốn vị
tướng
lãnh đã
chào
thua với
tình
hình rối
loạn, bỏ
mặc dân
chúng
Huế sống
trong
cảnh
kinh
hoàng,
lo sợ
trong sự
áp bức,
khủng bố
của đám
Vệ binh
đỏ
Nguyễn
Ðắc Xuân,
Hoàng
Phủ Ngọc
Tường,
Hoàng
Phủ Ngọc
Phan,
những
phần tử
tay sai
thân cận
của
Hoàng
Kim
Loan,
những cơ
sở nội
thành
nòng cốt
của
Thành ủy
viên
Việt
Cộng
Hoàng
Kim
Loan.
Huế vô
chính
phủ,
không
còn luật
pháp
quốc gia,
mà chỉ
có luật
rừng của
đám giặc
cỏ này.
Ðại tá
Nguyễn
Ngọc
Loan, Tư
lệnh
CSQG, đã
giải
thoát
đồng bào
Huế khỏi
cơn tai
ương của
đám giặc
cỏ, tái
lập lại
luật
pháp
quốc gia,
trật tự
an ninh
công
cộng.
Ngày tôi
đưa ông
và BTM/Hành
quân của
ông
xuống
phi
trường
Phú Bài
về lại
Sàigòn,
tôi còn
nhớ ông
dặn tôi:
- Mày
cẩn thận
lo giữ
mình,
bọn nó
không
tha mày
đâu.
Tôi trả
lời ông:
- Dạ.
Ông nói
tiếp :
- Bọn họ
nói Ðại
tá và em
là hai
tên
“Phản
đạo” lật
đổ bàn
thờ Phật.
Mày có
buồn vì
câu nói
đó không?
- Không.
Ðại Tá.
- Mình
làm đúng,
vì đó là
bổn phận
và trách
nhiệm
của mình.
Ai muốn
nói gì
thì nói,
để ý làm
gì.
Sau này,
trong
chín năm
chịu
trách
nhiệm an
ninh,
tình báo,
bảo vệ
sinh
mạng và
tài sản
của đồng
bào, mỗi
khi có
biến
động lớn
xẩy ra
tại Huế,
buộc
phải có
những
quyết
định và
hành
động
cứng rắn
với
những
thành
phần,
những
phong
trào phá
rối tạo
nguy cơ
cho Huế
và cho
đồng bào
Huế, tôi
vẫn
thường
nhớ đến
câu nói
của Ðại
Tá Loan,
như một
lời nhắn
nhủ của
ông đối
với tôi:
“Mình
phải
hành
động vì
đó là
bổn phận
và trách
nhiệm
của mình.
Ai muốn
nói gì
thì nói,
để ý làm
gì ”.
Trở lại
hai đợt
“Tổng
công
kích,
Tổng nổi
dậy”,
đợt I
vào Tết
Mậu Thân
1968, và
đợt II
vào
Tháng
Năm 1968
của lực
lượng
Việt
Cộng vào
Thủ đô
Sàigòn
và Huế
cùng với
hầu hết
các đô
thị lớn
của
Chính
phủ VNCH
gồm 36
tỉnh,
trong số
44 tỉnh
lỵ và 6
thành
phố lớn
của miền
Nam Việt
Nam.
Thiếu
Tướng
Nguyễn
Ngọc
Loan Tư
lệnh
CSQG/
VNCH,
ông đã
làm gì
để bảo
vệ Thủ
đô
Sàigòn
và đã
làm gì
để giúp
đỡ đồng
bào Huế
đang
trong
cảnh
khốn
cùng,
trong
nỗi
tuyệt
vọng lớn
lao,
trong
đau
thương
tang tóc,
và Huế
trong
điêu tàn
đổ nát,
để rồi
đến đợt
II tổng
công
kích,
tổng
khởi
nghĩa
của bọn
chúng
vào
thành
phố
Sàigòn,
Thiếu
Tướng
Loan Ông
đã làm
gì để
bảo vệ
Thủ Ðô
VNCH, để
bảo vệ
sinh
mạng và
tài sản
của đồng
bào tại
Sàigòn,
Chợ Lớn
và để
rồi ông
phải
nhận
lãnh một
định
mệnh đau
thương
và khắc
nghiệt
cho đời
ông và
cho gia
đình ông.
Tôi
không
thể nói
gì và
viết gì
về Thiếu
Tướng
Loan
trong
thời
gian VC
tấn công
Sàigòn,
vì thời
gian đó
tôi đang
ở Huế,
đang
cùng với
các
chiến sĩ
anh hùng
của
QLVNCH
và CSQG
Thừa
Thiên-Huế
phản
công các
đợt tấn
công của
VC.
Nhưng
tôi vẫn
có thể
viết rõ
đại thể
về Thiếu
Tướng
Nguyễn
Ngọc
Loan đối
với vụ
VC tấn
công tại
Sàigòn
như thế
nào vào
kỳ Tết
Mậu Thân:
Phần đầu,
tôi xin
mượn lời
của Tiến
sĩ Luật
Khoa
Thẩm
Phán,
Trần An
Bài, sau
này là
Giảng sư
của Học
Viện
CSQG/Việt
Nam Cộng
Hòa, và
của Ðại
Tá Trần
Minh
Công
Viện
Trưởng
Học Viện
CSQG/VNCH
mà trước
đó, Mậu
Thân
1968,
ông là
Chỉ huy
trưởng
CSQG/Quận
II, Thủ
Ðô
Sàigon,
và trong
những
giờ phút
đầu VC
tấn công
Sàigòn,
ông đã
sát cánh
với
Thiếu
Tướng
Nguyễn
Ngọc
Loan
tung lực
lượng
CSQG và
đích
thân chỉ
huy ngăn
chận các
đợt tấn
công của
VC. Ðêm
30 rạng
ngày 31
Tháng
Giêng
năm 1968
Dương
lịch,
tức đêm
mồng một
rạng
ngày 2
Tết, Thủ
đô
Sàigòn
bị VC
tấn công
tại một
số địa
điểm như:
Phi
trường
Tân Sơn
Nhất,
BTTM/QLVNCH,
đài phát
thanh
Sàigòn,
Tòa Ðại
sứ Mỹ,
Dinh Ðộc
Lập phía
đường
Nguyễn
Du, BTL/Hải
Quân.
Thật sự
thì Ðài
phát
thanh
Sàigòn
đã bị VC
chiếm
giữ một
thời
gian rất
ngắn,
nhưng
ngay tức
thời
Thiếu
tướng
Nguyễn
Ngọc
Loan đã
đích
thân
điều
động lực
lượng
CSQG và
cùng với
đơn vị
quân đội,
ông đã
chiếm
lại đài
phát
thanh
Sàigòn,
không để
một cho
bọn
chúng có
một cơ
hội nào
phát đi
bất kỳ
một lời
tuyên
truyền
nào của
bọn
chúng.
(Còn
tiếp) |