Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan và Huế trong Mậu Thân 1968
Liên Thành
 

Lời tòa soạn: Tác giả Liên Thành nguyên là Cháu nội của Ngài Kỳ Ngoại Hầu Cường Ðể, thuộc dòng con trưởng của Vua Gia Long (tức Ðông Cung Anh Duệ Ðại Nguyên Soái Hoàng Thái Tử Nguyễn Phúc Cảnh). Ông sinh 1 Tháng Mười Hai 1942, tại Huế, học Quốc Học và Ðại Học Huế (Phân khoa Sử), tình nguyện gia nhập quân đội (khóa 16 Võ Khoa Thủ Ðức). Ra trường năm 1963, cấp bậc Chuẩn úy, ông làm Phụ tá Quận Trưởng cho Chi khu Nam Hòa, sau là Ðại Ðội Trưởng Ðại Ðội Nghĩa Quân Nam Hòa, đại đội trưởng đại đội ÐPQuân, Chi Khu Phó Nam Hòa. 1966, Phó trưởng Ty Cảnh sát Ðặc Biệt Ty CSQG/Thừa Thiên (Huế). 1969, Chỉ Huy Trưởng CSQG Thừa Thiên (Huế) cho đến đầu Tháng Giêng 1975. Tác phẩm: “Biến Ðộng Miền Trung, Những bí mật chưa tiết lộ, giai đoạn 1966-1971”, xuất bản năm 2008.

Có quá nhiều kỷ niệm về Huế trong tôi. Tạ từ Huế đã lâu, lâu lắm rồi... từ dạo quê hương bắt đầu chìm trong thảm họa. Hơn ba mươi ba năm, chưa một lần nào về thăm cảnh cũ người xưa, tìm lại những dấu vết thời gian của một Huế ngày tháng cũ.

Nam Cali, nơi xứ lạ quê người, mùa này cuối năm, buổi sáng trời trở lạnh, sương mù mênh mông, mờ ảo, gợi nhớ những kỷ niệm Huế vào những ngày cuối năm, cũng sương mù dày đặc chắn lối đi, hình ảnh những người đàn bà Huế với chiếc áo dài, khi ẩn, khi hiện trong sương sớm, quẩy đôi thúng cá, nặng trĩu đong đưa trên vai từ Chợ Dinh qua cầu Gia Hội, Chợ Nọ qua cầu Tràng Tiền đến chợ Ðông Ba, hay những gánh cơm hến từ vùng Cồn Hến băng qua Ðập Ðá lên đường Hàng Me, rồi thì nồi bún trâu từ lò trâu Vân Dương lên vùng An Cựu thơm lạ lùng và quyến rũ trong sương sớm. Ai đã là dân Huế mà chưa một lần ăn bún trâu Vân Dương thì quả là một thiếu sót lớn.

Giờ này, thời gian cuối năm cũng đã gần kề. Từ chốn xa xôi biền biệt, chợt thấy nhớ quê hương, nhớ Huế một cách lạ lùng, nhớ da diết... nhớ lại những ngày cận Tết của năm 1968 tại Huế. Từ ngữ Mậu Thân 1968, tất cả đều làm cho người ta nhớ đến Huế. Huế, Mậu Thân, 68, đã vĩnh viễn đi vào lịch sử với nỗi hãi hùng kinh sợ...

Ðã hơn bốn mươi năm trôi qua vậy mà vết thương Mậu Thân như vẫn còn đau đớn trong lòng, cứ mỗi độ Ðông sang, vết thương lại tái phát, lại đau nhức trở lại, nhất là thế hệ chúng tôi, những kẻ suốt nửa cuộc đời tuổi trẻ sống trọn và dâng hiến cho “cầu Tràng tiền sáu vài mười hai nhịp”, cho “sông An cựu nắng đục mưa trong”, cho “tiếng chuông Thiên Mụ canh gà Thọ Xương”, và cho những ngày mưa bụi giăng đầy từ Văn Thánh, Thiên Mụ, xuống Kim Long về Bạch Hổ, qua Hoàng Cung của một thời: “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo”, mưa bụi mờ nhạt trên dòng sông Hương trôi về Ðập Ðá, Vỹ Dạ, dòng sông âm thầm lặng lẽ, như đời người dân Huế chịu đựng bao nhiêu đổi thay, bao nhiêu nghịch cảnh của một thời chính chiến, tao loạn.

Và khi đã ở lính, được phép về Huế, bất chợt đi ngang qua trường Ðồng Khánh, ngang bến đò Thừa Phủ vào buổi chiều tan học khi mà “Áo em trắng quá nhìn không ra”, nhìn theo mà lòng ngẩn ngơ buồn.

“Hồn lính vương qua vài sợi tóc

Tôi thương em mà em đâu có hay”

(Thơ Quang Dũng)

Ðó là Huế yêu dấu ngàn đời. Một nửa quãng đời sống và lớn lên tại Huế, tôi bây giờ tháng năm xa cách, thật nhớ khôn nguôi.

Nhớ lại Mậu Thân 1968, sau 22 ngày bị VC chiếm giữ, đến ngày thứ 26 Huế hoàn toàn được cứu thoát khỏi cơn tai biến do chính QLVNCH, xin tạ ơn các anh, người lính VNCH.

Thế nhưng sau tai ương thảm khốc đó, Huế còn lại gì?

Thân thuộc gia đình, bạn xa, bạn gần, hàng xóm láng giềng gần, xa, bao nhiêu mất mát chia lìa, bao nhiêu tống biệt, bao nhiêu ngậm ngùi xót xa, Huế đều nhận lãnh sau ngày đó.

Sau Mậu Thân Huế chẳng còn gì, có còn chăng là những đổ vỡ điêu tàn trong lòng người và trong lòng cố đô Huế.

Việt Cộng tràn vào Huế khuya ngày mồng một rạng ngày mồng hai Tết Mậu Thân, sau 22 ngày tàn sát dân Huế và gây tang tóc, điêu linh, đổ nát cho Huế, bọn chúng bắt đầu chạy trốn khỏi Huế vào khuya ngày 22/2/1968, khi bị QLVNCH tấn công và đẩy bọn chúng ra khỏi Huế, để lại cho Huế những đau thương cùng cực với 5,327 nạn nhân mà chúng đã hạ sát và 1,200 người mất tích không còn dấu vết tìm kiếm.

Huế còn lại điêu tàn đổ nát, thành phố đầy rẫy xác người. Từ đường Lê Lợi, đến đường Nguyễn Huệ, trường Thiên Hựu, vùng Dòng Chúa Cứu Thế kéo về đường Duy Tân, qua đường Lý Thường Kiệt, Trần Cao Vân, khu tòa Ðại Biểu, khu tòa Hành Chánh Tỉnh, bệnh viện Trung ương Huế, khu Bưu Ðiện, Ngân Khố, bị tàn phá nặng nề, đâu đâu cũng thấy xác người, ngay vệ đường, trong lùm cây bụi cỏ, xác người đã sình thối và bắt đầu rữa nát.

Dòng sông An Cựu “nắng đục mưa trong” có 6 cây cầu bắc ngang. Cầu An Cựu nối liền quốc lộ I ra tỉnh Quảng Trị đã bị phá sập hoàn toàn.

Cầu Kho Rèn, cầu Phủ cam, Cầu Bến Ngự, 3 cây cầu này loang lổ vết đạn pháo binh, đã hư hại đến hơn 70%, không thể sử dụng được nữa; duy chỉ còn cầu Nam Giao nối thành phố lên vùng Từ Ðàm Nam Giao, và cầu Ga, nối thành phố lên ga tàu lửa Huế- Ðà Nẵng, Huế-Quảng Trị tương đối còn có thể sử dụng được.

Và cầu Tràng Tiền sáu vài mười hai nhịp ngay giữa lòng thành phố Huế chỉ còn lại năm vài, một đầu vài kia đã chìm xuống dưới dòng sông lạnh...

Cầu Tràng Tiền là một kỷ niệm vui buồn, khó quên. Nó như một phần đời của người Huế. Chiếc cầu đó là một chứng nhân thầm lặng của lịch sử, đã biết bao đổi thay của nhiều triều đại, nhiều thế hệ, của những thăng trầm, những biến động đau thương, mà tổ quốc và dân tộc đã gánh vác còng lưng, và quê hương đã gánh chịu đọa đày, nó không thể gãy vì đó là một hình ảnh một biểu tượng quá sâu trong lòng người Huế, trong lòng những kẻ Huế tha hương, mỗi khi nhắc đến nó, nhớ đến nó lại thổn thức nghẹn ngào, lại nhớ da diết, nhớ cuống quít, muốn tìm về chốn cũ quê xưa, nơi có “Cầu Tràng Tiền sáu vài mười hai nhịp”, nơi đó là Huế dấu yêu muôn đời. Có thể nói, Cầu Tràng Tiền, dòng sông Hương, núi Ngự Bình và người Huế cả bốn là một.

Cầu được khởi công xây cất từ Tháng Năm năm 1889, năm Thành Thái thứ 9, và hoàn tất vào Tháng Mười năm 1890, do công ty Eiffel lãnh thầu xây cất với tổn phí 800,000 Fr. Như vậy tính đến nay, năm 2008 cây cầu đã được 119 năm tuổi đời. Vào lúc khánh thành, cây cầu được đặt tên là cầu Thành Thái. Sau bao nhiêu biến đổi thăng trầm của lịch sử và của Huế, cây cầu được đổi tên: Cầu Tràng Tiền. Tràng Tiền, tên thật đơn giản, vì cây cầu được xây tại vùng Phú Xuân, Thuận Hóa, nơi thuở xưa các đời Chúa Nguyễn có xưởng đúc tiền tại đó. Chỉ vậy thôi.

Năm 1946, khi quân đội Pháp tấn công và tái chiếm Huế, Việt Minh rút khỏi thành phố, trong kế hoạch “Tiêu thổ kháng chiến” bọn chúng đã giựt sập một vài cầu Tràng Tiền. Năm Mậu Thân 1968, lần thứ hai, cây cầu lại bị bọn chúng giựt sập.

Vì thế mà Huế trong những ngày tháng tạm yên bình không tiếng súng, đã có những câu hò đối, đáp, vang vọng trên dòng sông Hương vào những đêm khuya trăng sáng trải dài từ Linh Mụ xuống cầu Bạch Hổ đến Hoàng Cung, qua cầu Tràng Tiền xuôi về Ðập Ðá, ngang qua Vỹ Dạ đến tận thôn Thọ Lộc, tiếng hò nghe như một lời oán trách, não nuột, buồn lạ lùng.

Câu hò đối đi:

“Cầu Tràng Tiền bấy nhiêu năm qua lại

Kể từ đời Thành Thái đến nay

Chạnh lòng biết mấy ai ơi

Việc chi nên nỗi dang tay giựt cầu.”

Câu hò đáp lại:

“Lắm chuyện ly kỳ hỏi làm chi cho tối dạ

Nhịp cầu nghiêng ngả chưa lạ anh ơi

Ðiện Cần Chánh họ đút họ chơi

Khói bay nghi ngút tạn Trời anh thấy không.”

(Cụ Ưng Bình Thúc Dạ)

Khu Quận 2, trung tâm thương mại Huế lại càng điêu tàn và tang thương hơn. Dãy phố nối dài từ bến xe Nguyễn Hoàng xuống đến đường Trần Hưng Ðạo, qua đường Phan Bội Châu, đường Hàng Bè, đến khu Gia Hội đường Chi Lăng, khu Trung Bộ, đường Bạch Ðằng, đến tận trường trung học Gia Hội, qua khu Bãi Dâu, nhiều cửa tiệm đã sập đổ, nhiều cửa hàng có đến hằng ngàn vết đạn, và đầy những xác người và những mồ chôn tập thể.

Trở vào quận I thành nội Huế, nơi đây trong 22 ngày trận chiến nặng nề nhất, cộng quân đã bị Quân lực VNCH vây chặt, bọn chúng không còn đường rút lui nên cố phá vòng vây của TQLC Việt Nam Cộng Hòa, Nhảy Dù, Sư Ðoàn I BB. Trận chiến cam go và ác liệt, kéo dài nhiều ngày.

Thành nội Huế với những cửa thành: Thượng Tứ, Chánh Tây, Ðông Ba, Cửa Trài, khu Kỳ Ðài tất cả đều bị tàn phá, sụp đổ nặng nề, có nơi không còn viên gạch nào chồng lên viên nào.

Khu vực Tây Linh, Tây Lộc, đường Hòa Bình, Ðinh Bộ Lĩnh cửa Thượng Tứ, cửa Ðông Ba tất cả điêu tàn sụp đổ, xác người đã sinh thối.

Tang thương và đau đớn nhất là khu vực Ðại Nội, Tử Cấm Thành, một di tích lịch sử của triều đại nhà Nguyễn đã bị phá hủy nặng nề.

Ðã hơn 150 năm trước, trong triều đại Vua Minh Mạng Bà Huyện Thanh Quang hoài vọng nhà Lê đã viết trong bài 'Thăng Long hoài cổ':

“Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo

Ngõ cũ lâu đài bóng tịch dương

Ðá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt

Nước còn cau mặt với tang thương.”

Thì năm 1968 cố đô Huế, Ðại Nội, Tử Cấm Thành còn điêu tàn khủng khiếp, rùng rợn hơn Thăng Long ngày xưa ngàn lần.

Và trong những ngày kinh hoàng cơ cực của năm Mậu Thân 1968, dân chúng Huế đã tỵ nạn trên chính ngay thành phố Huế, nơi chôn nhau cắt rốn của họ.

Tất cả các trường Quốc Học, Ðồng Khánh, Kiểu Mẫu, Lê Lợi, Thiên Hựu, Thượng Tứ, Hàm Nghi, Dòng Chúa Cứu Thế, nhà thờ Phủ Cam đã là những trại tỵ nạn. Hằng ngàn người cho mỗi nơi.

Ðàn bà, trẻ thơ, ông già, bà lão, họ kinh hoàng, thất thần, đói khát, ôm nhau để cùng chết, cùng sống trong những giờ phút bi thương đó, khổ nạn đã vút tận trời xanh, cùng cực đã xuống tận đáy sâu, kể sao cho hết, viết sao cho cùng. Ôi! Huế đau thương, Huế đọa đày. Huế địa ngục trần gian có thật của năm Mậu Thân 1968.

Rồi những ngày tháng kế tiếp, Huế trong cảnh điêu tàn còn phải gánh chịu thêm tang tóc chia lìa. Có thể nói hầu như không có gia đình nào không có thân nhân bị VC sát hại hoặc bắt đi, vợ mất chồng, con mất cha, anh em mất nhau, bạn gần, bạn xa, hàng xóm láng giềng vắng bóng. Huế đã sống trong nỗi hy vọng mong manh, và niềm đớn đau tuyệt vọng tận cùng. Mọi người đã sống trong khắc khoải chờ đợi người thân trở về, và trong nghẹn ngào, đớn đau, xót xa khi đã tìm ra thân xác của thân nhân nằm chết co quắp bên vệ đường Lê Lợi, Duy Tân, Nguyễn Huệ, Trần Hưng Ðạo Chi Lăng Nhà Bè, Ðinh Bộ Lĩnh, Hòa Bình, Ngã tư Anh Danh, Miếu Âm Hồn, chết tức tưởi trong lùm cây bụi bỏ, dưới hố sâu hầm cạn, tại trường Trung học Gia Hội, Bãi Dâu, tại cửa Ðông Ba, Thượng Tứ Nhà Ðồ, bên bờ khe vực thẳm, dọc theo Khe Ðá Mài, Khe Trái, Khe Lụ, tại vùng Lăng Xá Bàu, Lăng xá Cồn v.v...

Và như ông Tú Trần Tế Xương đã nói: “Bừng con mắt dậy, ngỡ mình chiêm bao”.

Quả đúng, buổi sáng thức giấc, chợt thấy thành phố Huế phủ một màu tang trắng: Hằng đoàn người khăn tang áo chế, theo sau hằng trăm cỗ quan tài, u buồn, chậm bước dọc cầu Tràng Tiền theo đường Lê Lợi lên nghĩa trang Ba Ðồn cạnh đàn Nam Giao, nơi mồ chôn tập thể của hàng ngàn nạn nhân vô tội bị bọn quỷ dữ Việt Cộng tàn sát.

Còn gì đau thương hơn hỡi trời, hỡi đất, hỡi sông Hương núi Ngự, hỡi Cung miếu triều xưa, hỡi hồn thiêng sống núi, hỡi anh linh tiền nhân sao nỡ đọa dày dân tộc đến tận cùng khổ đau.

Có thể là một nghiệp báo chăng? Có thể ngày xưa trên đường Nam tiến mở mang bờ cõi, các vị Tiên Ðế đã quá mạnh tay với dân tộc khác để ngày nay con cháu phải trả món nợ oan khiên này?

Huế trong tình trạng gạo thiếu, nhu yếu phẩm thiếu, điện thiếu, nước thiếu, dân Huế đang quằn quại, cơ cực trong các trại tỵ nạn. Xác người sình thối trong thành phố, và hầu như trong các trại tỵ nạn không nơi nào có nhà vệ sinh cho đồng bào, họ phải tùy cơ ứng biến vì thế không một trại ty nạn nào không tỏa mùi hôi thứ đó.

Nguy cơ những cơn bệnh truyền nhiễm có thể xẩy ra bất cứ lúc nào. Những ngày này thời tiết lại quá xấu, bầu trời thật thấp, phủ một màu xám, từng cơn mưa phùn trải dài qua thành phố, ngày này sang ngày khác, lạnh cắt da. Ông già, bà lão, trẻ thơ, run rẩy trong chiếc áo mong manh, họ đang bị đói và lạnh trong các trại tỵ nạn.

Huế trong đổ nát điêu tàn, trong đau thương quằn quại. Huế nằm bất động như người bệnh bán thân bất toại, tưởng chừng như không bao giờ gượng dậy nổi.

Một số ít người Huế đã nói: “Huế chỉ để mà nhớ, chứ không để mà ở”, và họ đã bỏ Huế ra đi...

***

Thế nhưng, có một người, mặc dầu thân sinh là người Bắc, nhưng ông ta lại được sinh ra tại Huế, lớn lên tại Huế, rời khỏi Huế từ độ quê hương chìm đắm trong binh lửa. Nhưng mỗi khi Huế gặp nạn, dân Huế gặp nạn, ông lại trở về Huế với tấm chân tình và lòng thiết tha cứu Huế và giúp đồng bào Huế.

Sáng hôm nay, ngồi viết những dòng chữ về ông mà lòng tôi không nén nổi xúc động. Tưởng nhớ đến ông, một người anh cả trong lực lựợng CSQG, không những tôi mà còn một số lớn anh em đồng đội trong lực lượng CSQG muôn đời thương tiếc và kính trọng ông.

Hùm chết để da, người ta chết để tiếng. Bây giờ ông đã đi khuất, không còn trong cuộc đời phiền muộn này nữa, nhưng Ông đã để lại tiếng tốt muôn đời, để lại sự kính trọng, và lòng biết ơn của rất nhiều người dân Huế.

Ông chính là Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan, Tư Lệnh Lực Lượng CSQG (1966- Tháng Năm 1968).

Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan sinh ngày 1 Tháng Hai 1930 tại Huế, tốt nghiệp khóa 1 trường Võ bị Thủ Ðức.

- 1953 Thiếu Tướng Loan thụ huấn khóa phi công tại trường Không quân Salon de Provencce tại Pháp, tốt nghiệp với bằng Kỹ Sư Hàng Không. Ông là một trong những phi công lái khu trục cơ đầu tiên của VNCH.

- 1960 ông giữ chức vụ CHT Phi đoàn 2 Quan sát tại Nha Trang.

- 1964, vinh thăng Ðại Tá, Tư Lệnh Phó Không Quân VNCH.

Ngày 11 Tháng Hai 1965, Ðại tá Nguyễn Ngọc Loan đã dẫn đầu những phi đoàn A1 Skyraider vượt vỹ tuyến 17 oanh tạc miền Bắc Việt Nam trong chiến dịch Mũi Tên Lửa (Flamming Dart).

Chưa bao giờ trong cuộc chiến đầy bi thảm của quê hương mà lòng yêu nước và tinh thần chiến đấu chống Cộng Sản của dân quân Trị Thiên lại lên cao như vậy. Dân chúng, học sinh, sinh viên Huế đã tổ chức biểu tình lớn để hoan hô, vinh danh những người hùng Không Lực VNCH, những Kinh Kha của thời đại, đã vượt sông Gianh xông vào đất địch. Những tên tuổi như Nguyễn Ngọc Loan, Phạm Phú Quốc... một thời đã được đồng bào trân trọng vinh danh.

Tôi bấy giờ chỉ là viên sĩ quan trẻ, cấp Thiếu úy, được biết tên ông từ dạo đó.

Sau cuộc hành quân Mũi Tên Lửa 11 Tháng Hai 1965, Ðại tá Nguyễn Ngọc Loan được bổ nhiệm về làm Tổng Giám Ðốc CSQG, Giám Ðốc Nha An Ninh Quân Ðội, Giám đốc Phủ Ðặc Ủy Trung Ương Tình Báo.

Tháng Ba 1966 miền Trung Huế dậy sóng, biến động lớn xẩy ra vì tham vọng điên cuồng, bất chấp vận mệnh quốc gia- dân tộc say mê quyền lực của những kẻ đội lốt tu hành, cam tâm làm tay sai cho CSVN đã ngỡ mình là “anh hùng cái thế”, liên tiếp khống chế, gây bất ổn chính trị cho đất nước.

Với sự nhượng bộ của Mỹ, liên tục thay đổi điều hành các “triều đại”, để dần thiết lập quyền lực đen qua các cuộc biểu tình, xuống đường của các Phật tử tranh đấu. Từ triều đại Dương Văn Minh, đến Nguyễn Khánh, qua triều đại Khánh-Minh-Khiêm, đến triều đại Trần Văn Hương, Phan Huy Quát, cho đến thời gian đầu của chính quyền Tướng Thiệu-Kỳ, tất cả đều bị thao túng, sắp đặt nhân sự.

Ðến khi tình hình vượt quá sự chịu đựng của chính quyền Johnson, và đất nước Việt Nam Cộng Hòa trên bờ vực thẳm để cho CSVN thôn tính, các Tướng lãnh phẫn nộ thì Henry Cabot Logde không thể nào nghe lời và chiều chuộng bọn name vùng ngông cuồng được nữa. Bị phía Mỹ từ chối không ủng hộ, từ Saigòn, chúng bay ra Huế cùng đám cán bộ Cộng Sản nằm vùng quá lâu trong Phật giáo như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Ðắc Xuân, Phan Duy Nhân, Hoàng Phủ Ngọc Phan v.v... và được sự hỗ trợ mạnh mẽ của Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam qua tên Trung tá điệp viên Hoàng Kim Loan, bọn chúng mưu đồ muốn biến miền Trung thành một vùng trái độn, và âm mưu biến Kinh đô Huế ngày xưa sẽ là thủ đô của đám MTGP Miền Nam.

Cuộc biến động xẩy ra từ Tháng Ba 1966, và kéo dài trong 100 ngày. Tình hình rối loạn từng giờ, từng ngày, công sở của chính quyền bị đám phản loạn chiếm giữ, cơ sở Ngoại giao đoàn bị đốt phá, Quân đội, Công chức, Cảnh sát, ngã theo đám tranh đấu. Thành phố không còn Chính quyền, không còn luật pháp quốc gia, đám tranh đấu muốn vu khống, muốn đánh đập, muốn bắt bớ ai tùy thích. Dân chúng Huế kinh hoàng hỗn loạn, đời sống mỗi ngày mỗi cơ cực, họ sống trong niềm tuyệt vọng, buồn thảm nhìn tương lai vô định...

Chính phủ Trung Ương đã liên tục cử ra miền Trung bốn vị tướng lãnh với chức Tư Lệnh Quân Ðoàn để ổn định tình hình miền Trung, nhưng tình hình vẫn mỗi ngày mỗi rối loạn thêm, họ bất lực bó tay. Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi phải ngã theo đám phản loạn, chống lại chính phủ Trung ương; đến Thiếu Tướng Nguyễn Văn Chuân, rồi đến Trung Tướng Tôn Thất Ðính, ông này hoảng sợ phong trào tranh đấu phải chạy trốn vào BTL/Sư đoàn TQLC Hoa Kỳ tại Ðà Nẵng xin tỵ nạn, rồi đến Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao. Thiếu Tướng Cao đã bị viên Trung úy Sư Ðoàn I BB ly khai Nguyễn Ðại Thức bắn, cũng may ông không bị trúng đạn và cuối cùng Thiếu Tướng Cao cũng vào xin tỵ nạn tại BTL/TQLC Hoa Kỳ tại Ðà Nẵng.

Với một tình hình rối loạn và hầu như tuyệt vọng tại miền Trung như vậy, bốn Tướng đã bỏ chạy, Ðại Tá Nguyễn Ngọc Loan, Tổng Giám Ðốc CSQG được Chính phủ giao trọng trách ổn định và tái lập an ninh trật tự tại miền Trung, đặc biệt là Ðà Nẵng và Thừa Thiên Huế.

Theo Ðại tá Trần Minh Công, Viện Trưởng Học Viện CSQG/ VNCH, (vào thời điểm đó Ðại Tá Công là một Sĩ quan trẻ của LL/CSQG cùng đi với Ðại tá Loan ra Ðà Nẵng) thì lực lượng của BCH/hành quân dẹp loạn của Ðại Tá Loan gồm có Chiến Ðoàn TQLC/VNCH, được tăng phái thêm một tiểu đoàn Nhảy Dù/VNCH, lực lượng hành quân được không vận ra Ðà Nẵng đã phải ở trong phi trường mất hai ngày mà không thể tung quân ra được vì Ðại tá Loan muốn tránh một cuộc đổ máu xẩy ra, bởi lẽ Trung đoàn 51 BB/VNCH ly khai đang bố trí và sẵn sàng tấn công lực lượng của Ðại Tá Loan. Ðấy là chưa nói đến bên cạnh Trung Ðoàn 51 BB ly khai còn có tiểu đoàn 11/BÐQ của Ðại úy Nguyễn Thừa Dzu cũng đã hợp tác với lực lượng tranh đấu tại Ðà Nẵng.

Thiếu Tướng KQ Nguyễn Cao Kỳ, lúc đó là Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, đã bay ra Ðà Nẵng họp cùng Ðại Tá Loan. Thiếu Tướng Kỳ có ý định cho chiến đấu cơ của Không Quân VNCH cất cánh nhắm vào BCH của Trung đoàn 51 BB ly khai, chỉ mục đích cảnh cáo, nhưng gặp ngay phản ứng về phía Chính Phủ Hoa Kỳ, qua Tư lệnh lực lượng TQLC/Hoa Kỳ tại Ðà Nẵng, Trung Tướng Waltz, đã gởi một thông điệp cho Thiếu Tướng Kỳ:

- Nếu chiến đấu cơ của Không quân VNCH cất cánh, ông ta sẽ cho chiến đấu cơ Hoa Kỳ cất cánh ngăn chận, bắn hạ ngay.

Ðược hỏi lý do tại sao? Theo ông Trần Minh Công thì Ðại Tá Nguyễn Ngọc Loan cho rằng có lẽ Hoa Kỳ đã buộc Chính phủ VNCH phải chấp nhận một số điều kiện nào đó của họ thì họ mới chịu để yên cho Chính phủ VNCH ra tay dẹp đám phản loạn; và câu kết luận chua xót của ông Trần Minh Công: “Thật tình không hiểu nổi, đây là loại Ðồng Minh kiểu gì”.

Cũng theo ông Trần Minh Công, lúc bấy giờ tình hình tại Ðà Nẵng rất căng thẳng, nguy hiểm, và đầy bất trắc. Có thể đánh nhau lớn trong thành phố Ðà Nẵng giữa lực lượng hành quân dẹp loạn của Ðại Tá Loan gồm TQLC, Nhảy Dù VNCH, và quân đội ly khai gồm có Trung Ðoàn 51 BB, Tiểu Ðoàn 11/BÐQ của Ðại úy Nguyễn Thừa Dzu, cùng với đám tranh đấu ô hợp nhưng sắt máu, cuồng tín, mà đại đa số là cơ sở Việt Cộng thuộc 2 Ðại Ðội SV Phật Tử Quyết Tử do chính SV Nguyễn Ðắc Xuân chỉ huy, từ Huế vào Ðà Nẵng tăng cường cho lực lượng tranh đấu tại chùa Tỉnh hội Ðà Nẵng, bọn chúng đã được trang bị vũ khí.

Ðể tránh đổ máu giữa phe mình đánh phe ta, Ðại Tá Loan đã dùng những người bạn thân của Ðại úy Nguyễn Thừa Dzu bí mật tiếp xúc và chiêu dụ đại úy Dzu trở về với chính phủ. BÐQ là một trong những binh chủng thiện chiến nhất của QLVNCH, Tiểu đoàn BÐQ của Ðại úy Dzu lại đang chiếm giữ thành phố Ðà Nẵng, không chiêu dụ được tiểu đoàn này thì đại họa sẽ xẩy ra. Người phụ trách công tác chiêu dụ Ðại úy Nguyễn Thừa Dzu là Ðại Úy Nguyễn Tự Cường.

Ðại úy Nguyễn Tự Cường xuất thân Khóa 7 Võ bị Ðà Lạt, ông là chuyên viên tình báo phụ trách tình báo hải ngoại vùng Bắc Lào. Sau đảo chánh 1963, ông bị bắt giữ và giam tại Cục An Ninh Quân Ðội. Theo lời ông kể lại với tôi:

- Sau đảo chánh 1963, anh bị bắt vì là người của Cậu Cẩn. Tù một năm được thả ra, đói quá, mấy thằng Mỹ trả tiền và xúi dại anh tham gia đảo chánh, chỉnh lý lung tung, lại bị An Ninh Quân đội bắt lại, lần này bị giam gần 2 năm. Ðang ở tù thì bỗng cửa tù mở ra, được dẫn đi trình diện ông “Sáu Lèo”, anh đâu biết Sáu Lèo là ai, hỏi viên Sĩ quan đi theo thì mới biết là Ðại Tá Nguyễn Ngọc Loan Cục Trưởng Cục ANQÐ. Và cuộc gặp mặt với anh Sáu Lèo xẩy ra như sau:

- Ð... Cụ anh, làm cái gì mà tham gia đảo chánh lung tung để phải ngồi tù.

- Thưa Ðại tá, em làm gì đâu: Sau đảo chánh 1963, em bị bắt vì tội người của Ông Cậu. Một năm sau được thả ra, đói quá tham gia chỉnh lý kiếm tí tiền còm.

- Mày quen Nguyễn Thừa Dzu không?

- Bạn thân.

- Nó theo đám tranh đấu, Tiểu đoàn 11/BÐQ của nó đang chiếm thị xã Ðà Nẵng. Mày ra Ðà Nẵng dụ nó trở về, được không?

- Em làm được.

- Làm được, cho làm lớn, còn không thì về lại Cục ở tù tiếp.

- Trình Ðại tá, làm được nhưng phải có điều kiện.

- Ðiều kiện gì?

- Trước khi đi Ðà Nẵng, Ðại tá phải cho em truy lãnh 3 năm lương. “Có thực mới vực được đạo”. Bạch hóa hồ sơ, không ghi vào quân bạ. Ðại tá làm được hai chuyện đó thì em đi Ðà Nẵng dụ thằng Dzu. Còn không em vào tù tiếp, không đi.

- Ðược.

Ðại úy Cường đã gặp Ðại úy Nguyễn Thừa Dzu, và kết quả là Ðại úy Dzu rút Tiểu Ðoàn 11/BÐQ ra khỏi thành phố Ðà Nẵng, tránh được cuộc đổ máu không cần thiết.

Ðại úy Nguyễn Tự Cường ngay sau đó đã được Ðại tá Loan bổ nhiệm làm Trưởng ty An Ninh Quân đội thị xã Ðà Nẵng (1966-1975). Ông và Ðại tá Loan tính tình có nhiều điểm hợp nhau.

Trung Tá Nguyễn Tự Cường cũng đã theo Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan, đi vào miền vĩnh cửu vào Tháng Mười Hai 2007 tại Nam Cali.

Phần Ðại úy Nguyễn Thừa Dzu, ông theo Ðại Tá Loan dẹp xong vụ biến động miền Trung, về Sàigòn và được Ðại tá Loan bổ nhiệm đi làm Trưởng Ty CSQG một trong những quận tại Chợ Lớn.

Tuy vậy, súng đã nổ và đã có người chết. Khi ông Trần Minh Công tiến quân vào Chùa Tỉnh Hội Ðà Nẵng, ông đã phát giác có mười mấy xác chết đã sình thối trong nhà kho của chùa, và chính ông cùng nhân viên thuộc quyền đã vác những thi hài sình thối này ra xe đem chôn.

Ðại Tá Nguyễn Ngọc Loan đã ổn định được tình hình tại Thị xã Ðà Nẵng, ông rời Ðà nẵng ra Huế tiếp tục nhiệm vụ nặng nề đầy hiểm nguy là dẹp loạn tại Huế mà chính phủ đã giao trọng trách này cho ông. Người tiếp tục ổn định tình hình an ninh trật tự tại Ðà Nẵng là Quận Trưởng Cảnh sát Trần Minh Công, tân Trưởng Ty CSQG thị xã Ðà Nẵng, người mà Ðại Tá Loan tin cậy vào tài năng và lòng dũng cảm.

Quận Trưởng Cảnh Sát Trần Minh Công không phụ lòng của Ðại tá Loan, ông ta đã hoàn tất nhiệm vụ Ðại tá Loan giao phó cho ông. Ðó là một nhiệm vụ nặng nề, tiếp tục ổn định tình hình rối loạn. Chỉ một năm sau, tình hình Ðà Nẵng đã hoàn toàn ổn định. Ðại Tá Loan lại thuyên chuyển ông vào SàiGòn giữ chức vụ Trưởng Ty CSQG Quận II Thủ đô Sàigòn, để rồi Mậu Thân 1968, trong 2 đợt tổng công kích của VC vào Sàigòn, Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia và Quận Trưởng Trần Minh Công lại sát cánh cùng nhau tung lực lượng CSQG phản công ngăn chận 2 đợt tấn công của VC vào Sàigòn ngay những giờ phút đầu tiên.

***

Tôi trở lại vụ Tướng Loan dẹp loạn miền Trung:

Ngày 8 Tháng Sáu 1966 Biệt Ðoàn 222 Cảnh sát Dã chiến thuộc BTL/CSQG do Trung tá Phạm Huy Sảnh chỉ huy đổ quân chiếm ty CSQG Thị xã Huế.

Ðại Tá Nguyễn Ngọc Loan và bộ tham mưu hành quân dẹp loạn đến Huế , ngày 9 Tháng Sáu 1966. Lực lượng hành quân chiếm lại Tòa Hành Chánh của Tỉnh Thừa Thiên và thị xã Huế, Ðại Tá Loan đặt BCH hành quân tại đó. Tôi trình diện Ðại tá Loan, nhận công tác. Ðó là lần đầu tiên tôi gặp ông.

Huế lúc bấy giờ hoàn toàn nằm trong bọn tay sai của Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam, qua tên Trung Tá điệp viên Hoàng Kim Loan, Thành ủy viên Thành ủy Huế, bọn này định biến Huế thành vùng trái độn. Chiến trường Huế đã mở, mặt trận Trị-Thiên-Huế vừa chính trị vừa quân sự sẽ cam go, nguy hiểm và đầy bất trắc đang chờ đợi Ðại Tá Nguyễn Ngọc Loan nhảy vào thử lửa.

Dọc dãy Trường Sơn, cạnh sườn Thừa Thiên-Huế, lực lượng quân sự của Hà Nội, Sư Ðoàn 324B thuộc Quân Khu Trị Thiên đang ém quân chờ đợi biến cố lớn xẩy ra tại thành phố Huế là xua đại quân bôn tập tấn công và chiếm Huế. Nếu Ðại tá Nguyễn Ngọc Loan không kịp thời cứu Huế, có lẽ Huế đã mất vào tay Cộng sản mà không cần phải đợi đến Mậu Thân 1968.

Tại thành phố Huế, Sư Ðoàn I/BB là một trong những đơn vị tinh nhuệ nhất của QLVNCH hiện đang dưới sự chỉ huy của Chuẩn Tướng Phan Xuân Nhuận. Có thể nói một số lớn các đơn vị của Sư Ðoàn này cùng với Tư Lệnh, Chuẩn Tướng Phan Xuân Nhuận, đã ly khai với chính phủ trung ương, phục vụ cho mưu đồ đen tối và mộng tranh bá đồ vương của bọn tay sai CSVN đang chờ đợi Ðại Tá Loan.

Cái gọi là lực lượng tranh đấu lúc ấy có 4 đại đội Sinh viên Quyết Tử do tên Nguyễn Ðắc Xuân SV Sư phạm Hán Việt chỉ huy. Bốn đại đội này đã được Chuẩn Tướng Phan Xuân Nhuận đưa vào TTHL/Văn Thánh của Sư Ðoàn I/BB huấn luyện quân sự, và trang bị vũ khí. Bọn chúng phối hợp chặt chẽ với các đơn vị quân đội ly khai, cũng đang chờ đợi Ðại Tá Nguyễn Ngọc Loan.

Và các liên đoàn Công chức Phật Tử, giáo chức Phật Tử, Tiểu thương Phật Tử của các chợ Ðông Ba, Bến Ngự, An Cựu cũng đang chờ đợi Ðại Tá Nguyễn Ngọc Loan, lực lượng này khoảng vài chục ngàn người. Hai phong trào quần chúng đấu tranh do tên Trung tá Ðiệp viên Hoàng Kim Loan thành lập cũng đang chờ đợi Ðại Tá Nguyễn Ngọc Loan đó là:

-Phong trào Sinh Viên Tranh Thủ Hòa Bình do sinh viên Y Khoa Ðại học Huế Tôn Thất Kỳ chỉ huy.

-Phong trào SV Tranh thủ Dân Chủ do sinh Luật Khoa Nguyễn Hữu Giao chỉ huy.

Ðau lòng và nghiệt ngã nhất là những thằng con bất hiếu của Ðại Tá Nguyễn Ngọc Loan cũng đã nghe lời quyến rũ của tay sai Hoàng Kim Loan quay lại chống ông. Ðó là Lực Lượng CSQG Phật Tử thuộc Ty Cảnh Sát quốc Gia Thừa Thiên và Thị xã Huế, lực lượng này gồm khoảng trên 5 ngàn Sĩ quan và Cảnh Sát viên.

Con phản lại cha, theo giặc, làm loạn, thật bất hạnh cho Ðại Tá Loan và lực lượng CSQG/ VNCH.

Và cuối cùng viên Tư Lệnh của Phong trào tranh đấu đang chờ đợi Ðại Tá Nguyễn Ngọc Loan trong trận thư hùng một còn một mất này là Ðiệp viên của Hà Nội Trung Tá Hoàng Kim Loan.

Ðại Tá Nguyễn Ngọc Loan, một anh hùng hào kiệt của binh chủng Không quân VNCH, một hiệp sĩ Kinh Kha của thời đại, đã vượt sông Gianh Bắc phạt, trong chiến dịch “Mũi Tên Lửa”, giờ đây Tháng Sáu 1966, Kinh Kha đang trực diện với chiến trường cay nghiệt. Ông sẽ nhảy vào chiến trường này, chỉ huy trận đánh này, trận đánh sẽ còn cam go hơn khi dẫn đầu Phi Ðoàn Không Quân VNCH lao mình vào đất giặc.

Hoàng Kim Loan đã sử dụng niềm tin tôn giáo của 80% dân chúng Huế để gài Ðại Tá Nguyễn Ngọc Loan vào chiếc bẫy sập này, và nỗi khó khăn của ông là một số lớn dân chúng Huế lúc bấy giờ đã vì cuồng tín nghe theo lời mấy ông sư VC nằm vùng, không phân biệt được lý lẽ đúng sai.

Ðau lòng thay, Ðấng từ bi cũng đã bị hai tên này lợi dụng, làm bẫy sập ngăn chận Ðại Tá Loan:

Bàn thờ Phật đã xuống đường.

Thắng trận đánh này chưa hẳn là một vinh quang, nhưng bại trận đánh này là một báo hiệu đầu hàng sớm hơn ngày 30 Tháng Tư 1975 của dân chúng miền Nam Việt Nam, của Chính phủ VNCH trước sự xâm lăng của Cộng Sản Hà Nội, và chính ngay bản thân ông, Ðại Tá Nguyễn Ngọc Loan, đời binh nghiệp của ông sẽ giống như số phận của 5 tướng Thi, Nhuận, Chuân, Ðính, Cao.

Thế nhưng, thật không hổ danh anh “Sáu Lèo”, Ðại tá Loan đến Huế trực diện với một lực lượng phản loạn to lớn và hùng hậu như vậy. Ông thật can đảm, bình tĩnh nhảy vào chiến trường khắc nghiệt và cam go này, tung những đòn phản công lúc hư, lúc thực, y như Lệnh Hồ Xung trong Tiếu Ngạo Giang Hồ của Kim Dung nghiêng ngả thân người tung Tửu quyền chế ngự địch thủ.

Và ông đã chế ngự được, dẹp tan đám phản loạn:

- Không có đổ máu xảy ra.

- Thu hồi Sư Ðoàn I/BB lại cho quân lực. Giao Sư Ðoàn I/BB cho Ðại Tá Ngô Quang Trưởng Tham Mưu trưởng Sư Ðoàn Nhảy Dù VNCH chỉ huy và chỉnh đốn lại.

- Thâu hồi lại Huế cho chính Phủ Trung Ương từ tay sai của CSVN, mà trực tiếp là Trung tá Ðiệp viên Hà Nội Hoàng Kim Loan.

- Bắt giữ Chuẩn Tướng Phan Xuân Nhuận.

- Bắt giữ Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi.

- Và khoảng trên một ngàn các thành phần tranh đấu chủ chốt, vừa dân sự và quân sự bị bắt đem vào Cục ANQÐ và BTL/CSQG xét sử.

- Thanh lý môn hộ và tái tổ chức gia đình CSQG tại BCH/CSQG Thừa Thiên Huế. Ðiều quan trọng nhất là đem lại bình yên và ổn định cho đời sống đồng bào Thừa Thiên-Huế.

Bốn vị tướng lãnh đã chào thua với tình hình rối loạn, bỏ mặc dân chúng Huế sống trong cảnh kinh hoàng, lo sợ trong sự áp bức, khủng bố của đám Vệ binh đỏ Nguyễn Ðắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, những phần tử tay sai thân cận của Hoàng Kim Loan, những cơ sở nội thành nòng cốt của Thành ủy viên Việt Cộng Hoàng Kim Loan. Huế vô chính phủ, không còn luật pháp quốc gia, mà chỉ có luật rừng của đám giặc cỏ này. Ðại tá Nguyễn Ngọc Loan, Tư lệnh CSQG, đã giải thoát đồng bào Huế khỏi cơn tai ương của đám giặc cỏ, tái lập lại luật pháp quốc gia, trật tự an ninh công cộng.

Ngày tôi đưa ông và BTM/Hành quân của ông xuống phi trường Phú Bài về lại Sàigòn, tôi còn nhớ ông dặn tôi:

- Mày cẩn thận lo giữ mình, bọn nó không tha mày đâu.

Tôi trả lời ông:

- Dạ.

Ông nói tiếp :

- Bọn họ nói Ðại tá và em là hai tên “Phản đạo” lật đổ bàn thờ Phật. Mày có buồn vì câu nói đó không?

- Không. Ðại Tá.

- Mình làm đúng, vì đó là bổn phận và trách nhiệm của mình. Ai muốn nói gì thì nói, để ý làm gì.

Sau này, trong chín năm chịu trách nhiệm an ninh, tình báo, bảo vệ sinh mạng và tài sản của đồng bào, mỗi khi có biến động lớn xẩy ra tại Huế, buộc phải có những quyết định và hành động cứng rắn với những thành phần, những phong trào phá rối tạo nguy cơ cho Huế và cho đồng bào Huế, tôi vẫn thường nhớ đến câu nói của Ðại Tá Loan, như một lời nhắn nhủ của ông đối với tôi: “Mình phải hành động vì đó là bổn phận và trách nhiệm của mình. Ai muốn nói gì thì nói, để ý làm gì ”.

Trở lại hai đợt “Tổng công kích, Tổng nổi dậy”, đợt I vào Tết Mậu Thân 1968, và đợt II vào Tháng Năm 1968 của lực lượng Việt Cộng vào Thủ đô Sàigòn và Huế cùng với hầu hết các đô thị lớn của Chính phủ VNCH gồm 36 tỉnh, trong số 44 tỉnh lỵ và 6 thành phố lớn của miền Nam Việt Nam.

Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan Tư lệnh CSQG/ VNCH, ông đã làm gì để bảo vệ Thủ đô Sàigòn và đã làm gì để giúp đỡ đồng bào Huế đang trong cảnh khốn cùng, trong nỗi tuyệt vọng lớn lao, trong đau thương tang tóc, và Huế trong điêu tàn đổ nát, để rồi đến đợt II tổng công kích, tổng khởi nghĩa của bọn chúng vào thành phố Sàigòn, Thiếu Tướng Loan Ông đã làm gì để bảo vệ Thủ Ðô VNCH, để bảo vệ sinh mạng và tài sản của đồng bào tại Sàigòn, Chợ Lớn và để rồi ông phải nhận lãnh một định mệnh đau thương và khắc nghiệt cho đời ông và cho gia đình ông.

Tôi không thể nói gì và viết gì về Thiếu Tướng Loan trong thời gian VC tấn công Sàigòn, vì thời gian đó tôi đang ở Huế, đang cùng với các chiến sĩ anh hùng của QLVNCH và CSQG Thừa Thiên-Huế phản công các đợt tấn công của VC. Nhưng tôi vẫn có thể viết rõ đại thể về Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan đối với vụ VC tấn công tại Sàigòn như thế nào vào kỳ Tết Mậu Thân:

Phần đầu, tôi xin mượn lời của Tiến sĩ Luật Khoa Thẩm Phán, Trần An Bài, sau này là Giảng sư của Học Viện CSQG/Việt Nam Cộng Hòa, và của Ðại Tá Trần Minh Công Viện Trưởng Học Viện CSQG/VNCH mà trước đó, Mậu Thân 1968, ông là Chỉ huy trưởng CSQG/Quận II, Thủ Ðô Sàigon, và trong những giờ phút đầu VC tấn công Sàigòn, ông đã sát cánh với Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan tung lực lượng CSQG và đích thân chỉ huy ngăn chận các đợt tấn công của VC. Ðêm 30 rạng ngày 31 Tháng Giêng năm 1968 Dương lịch, tức đêm mồng một rạng ngày 2 Tết, Thủ đô Sàigòn bị VC tấn công tại một số địa điểm như:

Phi trường Tân Sơn Nhất, BTTM/QLVNCH, đài phát thanh Sàigòn, Tòa Ðại sứ Mỹ, Dinh Ðộc Lập phía đường Nguyễn Du, BTL/Hải Quân. Thật sự thì Ðài phát thanh Sàigòn đã bị VC chiếm giữ một thời gian rất ngắn, nhưng ngay tức thời Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan đã đích thân điều động lực lượng CSQG và cùng với đơn vị quân đội, ông đã chiếm lại đài phát thanh Sàigòn, không để một cho bọn chúng có một cơ hội nào phát đi bất kỳ một lời tuyên truyền nào của bọn chúng.

(Còn tiếp)

 
 
 
 

Trung Trực, trích từ Người Việt Online