Sau khi
đuợc tin
Lý Tống
không bị
dẫn-độ
qua
Việt-Nam
và sắp
trở về
Mỹ, có
một số
cơ-quan
truyền-thông
muốn
phỏng-vấn
tôi về
vụ này.
Tôi đã
xin được
miễn, vì
cần dành
ưu-tiên
cho Lý
Tống
phát-biểu
đầu
tiên; vả
lại, có
những
vấn-đề
mà chính
Lý Tống
mới có
"thẩm-quyền"
đề-cập
với
đồng-hương.
Trong
lúc chờ
đợi, xin
phổ biến
lại một
bài đã
viết lần
trước về
Lý Tống,
em tôi:
LÝ TỐNG,
EM TÔI
Le Van
Tong
Đến cuối
tháng 4
năm 1987
tôi mới
biết tin
về Lý
Tống, em
tôi.
Tống đã
qua Mỹ,
cũng như
Xuân-Sơn,
con trai
của
tôi.
Thoát
khỏi cõi
địa-ngục
này, ra
với
Thế-Giới
Tự-Do là
một
may-mắn
lớn nhất
trong
đời
người
dân
Việt-Nam
hiện
nay.
Lý Tống
tên thật
là Lê
Văn
Tống,
sinh
ngày
mồng 1
tháng 9
năm 1945
tại Làng
An-Cựu,
Huyện
Hương-Thủy,
Tỉnh
Thừa-Thiên.
Ngày
23-8-1964,
Ty
Cảnh-Sát
Quốc-Gia
Tỉnh
Quảng-Đức
có
tổ-chức
một bữa
tiệc.
Vừa mới
bắt đầu
thì Lê
Văn Tống
được
viên
Trưởng
Xe
Tuần-Cảnh
hướng-dẫn
vào
phòng.
Quan-khách
không
cho Tống
đi tắm
rửa, mà
bắt ngồi
vào bàn
liền.
Tống
xác-nhận
những
điều đã
viết
trong
thư gửi
tôi
trước đó
không
lâu, là
em
quyết-định
nghỉ
học, đi
chơi một
vòng từ
Trung-Nguyên
lên
Cao-Nguyên,
rồi vào
Sài-Gòn
xin
gia-nhập
Không-Quân,
nên ghé
thăm
tôi.
Có lẽ
đây là
lần đầu
tiên
học-sinh
Lê Văn
Tống có
dịp
chuyện-trò
thoải-mái
một lần
với
nhiều
viên-chức
và
sĩ-quan
cao-cấp:
đại-tá
Tỉnh-Trưởng
kiêm
Tiểu-Khu-Trưởng,
đốc-sự
Phó
Tỉnh-Trưởng
Hành-Chánh,
trung-tá
Tiểu-Khu-Phó
kiêm Phó
Tỉnh-Trưởng
Nội-An,
các
Trưởng-Ty,
các
trung-tá
Trưởng
Ty
An-Ninh
Quân-Đội
và
Tỉnh-Đoàn-Trưởng
Bảo-An,
các
viên-chức
và
sĩ-quan
cố-vấn
Hoa-Kỳ,
v.v...
Chắc-chắn
là Tống
đã nghe
nhiều
điều
bổ-ích
liên-quan
đến
quân-ngũ
và
Chính-Quyền.
Sau khi
quan-khách
ra về,
Tống
tiếp-tục
ngồi lại
với các
đợt
thực-khách
khác từ
các Quận
& Xã về
dự tiệc,
vì họ
rất
khoái
nói
chuyện
với "em
ông
Trưởng-Ty"
mãi cho
đến
khuya.
Sau bữa
tiệc ấy,
chắc hẳn
là lần
đầu tiên
Lý Tống
uống
rượu, mà
lại uống
nhiều,
em say
liên-tiếp
hai
ngày,
chỉ nằm
và cười
một
mình.
Các
thuộc-viên
của tôi
chốc
chốc lại
vào thăm
Tống và
nói với
nhau:
"Anh ấy
thật là
hiền-lành!"
Ở chơi
với tôi
đến ngày
02-9-1964
thì Tống
lên
đường
vào
Sài-Gòn
thực-hiện
chí-hướng
của
mình.
Qua năm
1965,
một hôm
trung-tá
Phan
Quang
Điều,
Trưởng
Ty
An-Ninh
Quân-Đội
địa-phương,
mang
hồ-sơ
của Tống
đến, để
tôi đọc,
xác-nhận,
và ký
tên
bảo-đảm
về
phương-diện
an-ninh
chính-trị
cho
Tống.
Thế là
em đã
trở
thành
quân-nhân.
Thời
gian 1970-1973,
tôi coi
Ngành
Đặc-Cảnh
Vùng II,
văn-phòng
đặt tại
Nha-Trang;
Tống
thường
về thăm.
Có hai
hình-ảnh
về em đã
in đậm
nét
trong
trí nhớ
tôi.
Thứ
nhất,
hầu như
lần nào
Tống
cũng dẫn
theo một
cô bạn
gái, mỗi
lần một
cô khác
nhau, và
cô nào
trông
cũng
xinh.
Đó là
chưa kể
những cô
mà tôi
cũng như
người
nhà
không có
dịp
thấy.
Trong
nhà,
ngoài
đường,
ai cũng
khen em
có số
đào-hoa.
Vợ tôi
hỏi em:
"Sao chú
chưa lập
gia-đình?"
Tống
cười:
"Em còn
bay nhảy
mà!"
Thứ hai,
Tống có
thói
quen lái
xe thật
nhanh.
Xe của
tôi thì
có chiếc
sơn màu
xanh+trắng
của
Cảnh-Sát,
có chiếc
sơn màu
trắng
sữa và
mang
bảng số
ẩn-tế
của
thường-dân,
mà Tống
cứ lái
vụt vào
phi-trường
quân-sự
Long Vân
cũng như
một số
đơn-vị
quân-sự
khác,
không
ngừng
lại tại
các trạm
kiểm-soát
của
Quân-Cảnh,
khiến
các
sĩ-quan
an-ninh
thỉnh-thoảng
lại gọi
than
phiền
với
tôi.
Các con
tôi hỏi:
"Chú lái
xe gì mà
nhanh dữ
thế?"
Tống
đáp:
"Thì chú
bay mà!"
Một hôm,
không
lâu
trước
ngày
Quân-Khu
I
thất-thủ
(tháng
3-1975),
trong
thời-gian
tôi làm
Giám-Đốc
Đặc-Cảnh
Vùng
này,
Trung-Tâm
Hành-Quân
của
Sư-Đoàn
I
Không-Quân
gọi
điện-thoại
báo tin
là Tống
đang bay
từ
Bửu-Sơn
ra
Đà-Nẵng
để đến
thăm
tôi.
Tôi rất
mừng, vì
tôi đã
ra Vùng
I từ
cuối năm
1973,
đến nay
mới có
dịp gặp
lại
nhau.
Tôi vội
vào
phi-trường
đón em.
Gặp nhau
tôi mới
biết là
Tống
đang gặp
phải một
chuyện
khó-khăn.
Số là
Tống
được cấp
trên
tín-nhiệm
giao
thêm
phần-vụ
quản-lý
Câu-Lạc-Bộ
Không-Quân
ở
phi-trường
Bửu-Sơn.
Vốn tính
bay-bướm,
Tống
tuyển
một
cô-gái
vào phụ
việc,
hẳn-nhiên
là đẹp,
giao cho
cô-ta
cất giữ
tiền-nong.
Cô
thủ-quỹ
ấy ôm
trọn số
tiền mấy
trăm
ngàn
đồng
trốn
đi.
Tống
được Cấp
Trên hạn
cho một
thời-gian
ngắn để
kiếm đủ
số bù
vào.
Biết tôi
là một
viên-chức
liêm-khiết,
mà nhà
lại
nghèo,
khó giúp
được em;
nhưng vì
là chỗ
anh+em,
vui/buồn
có nhau,
nên Tống
ra đây
tìm tôi.
Đó là
lần cuối
anh+em
chúng
tôi gặp
nhau khi
còn ở
trên đất
nước
Việt-Nam.
Tôi bị
Việt-Cộng
bắt ngày
17-4-1975,
và ra
khỏi
Trại
"Cải-Tạo"
(sau
cùng là
trại
Tiên-Lãnh,
thuộc
huyện
Tiên-Phước,
tỉnh
Quảng-Nam)
ngày
20-4-1987.
Hai ngày
sau, về
đến nhà
ở
Nha-Trang,
tôi mới
biết là
Lý Tống
còn
sống, và
đã đến
chốn
an-toàn.
Em tôi
là
phi-công
cuối-cùng
và
duy-nhất
của
Không-Quân
Quân-Lực
Việt-Nam
Cộng-Hòa,
lái
phản-lực-cơ
A-37 ném
bom lên
đầu
Việt-Cộng
để cản
đường
chúng
tiến vào
Miền
Nam, rủi
bị bắn
gãy
phi-cơ,
nhảy dù
xuống
đất thì
bị địch
bắt,
trên
Quốc-Lộ
số 1,
Thị-Xã
Cam-Ranh,
ngày
05-4-1975.
Tống bị
tống-giam
nhiều
nơi,
trong đó
có trại
A-30 của
Tỉnh
Phú+Khánh
Việt-Cộng,
vùng đất
trước
kia là
Tỉnh
Phú-Yên.
Sau một
thời-gian
thấy hơi
yên-yên,
các
thuộc-viên
cũ của
tôi
lần-lượt
tìm đến
thăm
tôi.
Những
người đã
từng ở
trại
A-30
trong
cùng
thời-gian
Lý Tống
bị giam
ở đó, đã
kể lại
cho tôi
nghe
thái-độ
bất-khuất
của em
trước
mặt kẻ
thù;
nhất là
có lần
bị chúng
bắt quỳ
mà Tống
quyết
không
chịu
quỳ, bị
chúng dí
súng vào
đầu và
bắn xéo
qua bên
tai mà
Tống vẫn
cứ
dõng-dạc
quát
lớn:
"Bắn đi!
Lý Tống
này chết
thì sẽ
còn có
trăm
ngàn Lý
Tống
khác
nữa!"
Bản-lĩnh
cao-cường
cùng với
câu nói
lịch-sử
đó đã
được
nhiều
người,
nhất là
dân
Phú-Yên
và
Khánh-Hòa,
dù chỉ ở
Trại
A-30 sau
ngày em
đã trốn
thoát
nơi đây,
hoặc ở
ngoài
đời mà
chỉ được
nghe
người
khác
truyền
miệng
với
nhau, kể
lại với
tôi với
lòng
cảm-phục
vô-biên.
Trong
giới
Cảnh-Sát
Quốc-Gia,
có một
nhân-vật
nổi
tiếng
ngang-bướng;
đó là
trung-tá
Nguyễn
Văn Can,
cựu Phó
Giám-Đốc
Cảnh-Sát
Công-An
Trung-Nguyên
Trung-Phần,
cựu
Trưởng
Ty CSQG
Tỉnh
Quảng-Ngãi.
Can cũng
bị giam
ở trại
A-30, và
được mọi
người
kính
phục, vì
anh cũng
đã
công-khai
chống
lại Ban
Giám-Thị
và bọn
cán-bộ
quản-giáo;
điển-hình
là việc
anh vẫn
trước
sau
không
chịu hát
bài "Bác
cùng
chúng
cháu
hành-quân".
Việt-Cộng
hạch hỏi
lý-do,
anh đáp:
"Tôi có
cùng đi
hành-quân
với
'Bác'
lần nào
đâu?"
Trong
năm
1991,
trên
đường từ
Huế trở
vào
Sài-Gòn,
Can ghé
thăm tôi
ở
Nha-Trang.
Khi
đề-cập
đến Lý
Tống,
chính
anh cũng
không
tiếc lời
khen-phục
em tôi.
Con-gái
thứ ba
của tôi,
Xuân-Lộc,
bị bắt
về tội
vượt
biển,
cũng có
thời-gian
bị đưa
ra giam
ở Trại
A-30 nói
trên.
Cũng vì
Lý Tống
đã được
mọi
người
trong
Trại
cũng như
ngoài
Trại
biết
đến, nên
hầu như
ngày nào
cũng có
nhiều
tù-nhân
lẫn với
thường-dân
tìm cách
đến gần
con tôi,
để "xem
mặt cháu
của Lý
Tống".
Tại
Nha-Trang,
có một
người
con-gái
đẹp tên
là
Thu-An.
Cô là
sinh-viên
đại-học
ở
Hoa-Kỳ,
về thăm
nhà thì
bị kẹt
luôn vì
vụ
Việt-Cộng
tiếm
chiếm
Miền
Nam.
Thân-phụ
của cô
là một
sĩ-quan
Quân-Lực
Việt-Nam
Cộng-Hòa,
cũng bị
tập-trung
"cải-tạo"
tại Trại
A-30.
Thu-An
đến
thăm+nuôi
cha, để
ý thấy
Tống lần
nào cũng
đi chân
trần,
thản-nhiên
giẫm lên
gai
nhọn, đá
sắc, đất
nóng,
than
hồng.
Thấy
hiện-tượng
lạ,
Thu-An
tưởng
Tống
không có
gì mang,
bèn gửi
biếu
Tống một
đôi dép
cao-su.
Những
lần đến
Trại sau
đó, cô
thấy
Tống
luôn
mang
theo đôi
dép nói
trên,
bằng
cách
buộc dây
đeo trên
vai
mình,
còn chân
thì vẫn
đi
không.
Thu-An
vượt
biển, bị
bắt, bị
giam
cùng
Trại
A-30.
Được
nghe kể
lại về
những
thành-tích
hào-hùng
của
Tống,
lại tận
mắt thấy
sức mạnh
tinh-thần
phi-thường
của
chàng
thanh-niên,
người
đẹp
Nha-thành
đã dành
hẳn cho
em tôi
một mối
tình đẹp
như mộng
và thơ.
Sau khi
vượt
thoát
được
Trại
A-30, Lý
Tống đã
ghé đến
thăm
Thu-An,
để chào
từ-biệt
trước
khi đi
tiếp vào
Sài-Gòn
tìm cách
vượt
biên.
Tống đã
ra đi
theo chí
tang-bồng,
biết đến
bao giờ
mới gặp
lại
nhau!
Sau đó,
Thu-An
qua Đức,
và lập
gia-đình.
Cha mẹ
Thu-An
với tôi
là chỗ
đồng-hương,
cùng quê
Hưng-Yên.
Bà mẹ
thường
đến thăm
tôi.
Năm
1990, bà
đi thăm
con ở
Tây-Đức
về, cho
tôi biết
là Lý
Tống có
xuất-bản
một cuốn
sách,
nhan đề
"Ó
Đen".
Cuốn
sách ấy
đã đến
tay
Thu-An.
Bà có
đọc nó ở
Đức, và
nói với
tôi:
"Đáng lẽ
Tống nên
tránh
nhắc và
in ảnh
của
Thu-An
trong
sách,
khi
người
con-gái
đã lập
gia-đình".
Năm
1991,
Thu-An
cùng
chồng và
hai con
về
Việt-Nam;
tôi có
gặp và
mừng cho
Thu-An
có một
người
chồng
đẹp
trai,
rất cưng
yêu vợ,
thật là
xứng
đôi.
Những
người
quen-biết
cũ của
anh+em
chúng
tôi cho
tôi biết
là Lý
Tống đã
xâm-nhập
vào
phi-trường
Tân-Sơn-Nhất,
nơi được
Việt-Cộng
canh gác
kỹ-càng.
Thế mà
Tống leo
lên được
một
chiếc
phi-cơ,
định
đánh cắp
nó,
nhưng bị
trục-trặc
máy-móc
nên
không
lái bay
đi đuợc;
song đã
thoát ra
an-toàn.
Trong
hành-động
này, đã
có một
vài
người
thân,
trong đó
có cả
người
đẹp,
đồng
lòng
tiếp sức
với em.
Bà-con
còn kể
lại
rằng,
trong
những
ngày
Tống
trốn-tránh
Công-An
Việt-Cộng
ở
Sài-Gòn,
vào năm
1980, có
nhiều cô
gái đã
đến với
Tống;
thậm-chí
họ còn
ghen
nhau,
làm
người
chủ nhà
hết hồn.
Bẩy năm
sau đó,
được tin
tôi mới
từ Trại
"Cải-Tạo"
về nhà,
một
người
con-gái
tên Hạnh
từ
Sài-Gòn
gửi thư
ra
Nha-Trang
thăm
tôi, cho
biết
địa-chỉ,
và ngỏ
lời mời,
khi nào
có dịp
tôi vào
Sài-Gòn
thì ghé
thăm cô,
để cô
được dịp
làm
quen, vì
cô là
một bạn
cũ của
em tôi.
Nội-dung
lá thư
trang-nhã,
nét chữ
viết
đẹp,
lời-lẽ
lễ-phép,
thân-mật,
nhưng
tôi cảm
thấy có
ngụ
trong đó
một chút
tự-tin
và
tự-hào.
Tống đã
từng có
không
biết bao
nhiêu
bạn gái,
thuộc
nhiều
thành-phần...
Bảy năm
qua rồi,
còn gì!
Ý Hạnh
muốn cho
tôi thấy
ở cô có
một
giá-trị
nào đó;
ít nhất
thì cô
cũng có
nhà cửa
đường-hoàng,
vẫn còn
nặng
tình với
Tống,
còn muốn
ra mắt
bà-con...
Cuối năm
1991,
nhân dịp
tôi vào
để lập
thủ-tục
xuất-cảnh
tại
thành-phố
thủ-đô
xưa,
Hạnh đến
thăm
tôi.
Qua cơn
dâu bể,
tôi chưa
thấy có
một
cựu-nữ-sinh-viên
Văn-Khoa
Sài-Gòn
nào còn
ở lại
với
quê-hương
khốn-khổ
mà còn
giữ được
dáng-vóc
yêu-kiều
của một
thời
xa-xưa
như Hạnh
của em
tôi.
Hạnh cho
tôi biết
nội-dung
của cuốn
"Ó Đen",
mà Tống
lén-lút
gửi về
từng
phần, về
cuộc
vượt-biên
vượt-biển
lịch-sử
của Lý
Tống mà
cả
thế-giới
đều đã
ngợi-ca:
trong
sự-nghiệp
đó, ở
giai-đoạn
đầu, tuy
đánh cắp
hụt
phi-cơ,
Hạnh đã
đóng-góp
một phần
vô-giá
cho Tống
đột-nhập
phi-trường.
Tôi hỏi
Hạnh có
muốn đi
Mỹ
không.
Biết ý
tôi hỏi
có muốn
qua với
Tống
không,
Hạnh
đáp:
"Không".
Tôi hỏi
vì sao.
Trả lời:
"Vì nếu
qua Mỹ
thì phải
làm lại
tất
cả".
Tôi hiểu
ý Hạnh,
không
phải nói
về
công-ăn
việc-làm,
mà nói
về
tình-cảm
giữa hai
người.
Tôi hỏi:
"Sao
phải làm
lại?"
Hạnh
đáp:
"Làm lại
về phía
anh ấy,
chứ về
phía em
thì có
gián-đoạn
gì
đâu!"
Tôi hỏi
Hạnh về
tương-lai,
cô đáp:
"Em sẽ ở
vậy trọn
đời!"
Tôi lại
hỏi
thêm:
"Tống có
còn gì
dành cho
em
không?"
Hạnh
nhìn
thẳng
vào mắt
tôi:
"Anh ấy
nếu
không
còn gì
cho em,
thì vẫn
còn có
một cái
gì
vô-cùng
cao-đẹp
hơn, cho
mọi
người!"
Tình yêu
của Hạnh
đã
chuyển
từ một
vô-vọng
vị-kỷ
sang một
kỳ-vọng
vị-tha.
Từ cách
nửa vòng
quả đất,
Tống
được tin
tôi đã
về nên
gửi thư
về thăm
tôi. Và
khi Tống
đang
chuẩn-bị
luận-án
tiến-sĩ
thì em
có gửi
cho tôi
hai bản
lược-đồ,
nội-dung
chủ-đề
"Integrative
Elephantism
and the
Causes
of War
Initiation"
và "The
Bull's
Eye of
Integrative
Elephantism"
. Vì
không
kèm theo
bản văn
nên tôi
không
thể hiểu
được ý
chính;
chỉ thấy
lờ-mờ:
Lược-đồ
thứ nhất
"Học-Thuyết
Đại-Tượng
Nhất-Thống
(?) và
Những
Nguyên-Nhân
Khởi-Chiến",
là một
con voi
đứng
trên
nền-tảng
kỹ-thuật
bằng hai
chân sau
(Năng-Lực
Công-Nghiệp
và
Năng-Lực
Quân-Sự),
đưa cao
hai chân
trước
lên
(Năng-Lực
Chính-Trị
và
Đặc-Tính
Quốc-Dân),
cho thấy
cái bụng
là
Lĩnh-Thổ,
cái lưng
là
Dân-Cư,
cái đuôi
vẫy lá
cờ Mỹ,
Chủ-Nghĩa
Lý-Tưởng
Đạo-Đức,
cái cổ
là
An-Ninh
Quốc-Gia,
cái tai
là
Chủ-Nghĩa
Hiện-Thực
Chính-Trị,
đầu đội
chiếc mũ
biểu-trưng
USA,
đôi mắt
là
Quyền-Lợi
Quốc-Dân,
cặp ngà
là
Tinh-Thần
Phản-Cách-Mệnh;
cái vòi
quấn
quanh và
nâng lên
cao một
cô
thiếu-nữ
mặc
quần-áo
tắm
(không
rõ là để
quật
chết hay
để tung
hô) với
cái
nhãn-hiệu
Chủ-Nghĩa
Đế-Quốc
(không
rõ để
chỉ cô
gái hay
chỉ cái
vòi);
Lược-đồ
thứ hai
là
"Trung-Tâm-Điểm
(hoặc
Yếu-Tố
Thành-Công)
của
Học-Thuyết
Đại-Tượng
Nhất-Thống
(?)" cho
thấy 5
cấp-độ:
giữa
Hòa-Bình
và
Cạnh-Tranh
20%, từ
Cạnh-Tranh
đến
Tranh-Chấp
Nhẹ 40%,
từ
Tranh-Chấp
Nhẹ đến
Tranh-Chấp
Nặng
60%, từ
Tranh-Chấp
Nặng đến
Bờ-Vực
Chiến-Tranh
80%, và
từ đó
đến
Chiến-Tranh
100%,
với
nhiều
phụ-chú
chi-tiết
linh-tinh.
Tôi chỉ
hiểu
được thế
thôi, và
lại tự
hỏi
chẳng lẽ
Tống
muốn nói
về
chính-đảng
Cộng-Hòa
của Mỹ
mà
biểu-tượng
là Con
Voi, hay
muốn
triết-lý
về câu
chuyện
một số
người mù
"thấy"
Voi của
Việt-Nam?
Chắc
phải là
một
kết-luận
cho một
công-trình
nghiên-cứu
lớn về
tình-hình
toàn-cầu.
Chung-quy
tôi vẫn
chưa
hiểu
Tống
muốn nói
gì.
Chính-trị
mà!
Tống
tiến-hành
nhiều
dự-án
cùng một
lần.
Thí-dụ
em đã
nhờ tôi
hợp-tác
soạn-thảo
một
tác-phẩm
mệnh-danh
"Tự-Điển
Thi-Nhân";
nhưng đó
chỉ là
một cuốn
sách gợi
ý, gợi
vần, tìm
chữ cho
người
mới tập
làm thơ,
sắp xếp
theo
thứ-tự
từ-điển:
A thì
"lắm
a?",
"thế
a?", rồi
đến
"ba-ba",
"thu-ba",
"yên-ba",
v.v...
Tự-điển
này gồm
ba thứ
tiếng
Việt-Anh-Pháp:
Tống
muốn
giúp cho
cả những
người
nói
tiếng
Anh,
tiếng
Pháp
cũng có
thể dùng
nó để
chọn
chữ,
gieo
vần, làm
thơ
Việt-Nam!
*
Lòng tôi
nôn-nao
đợi ngày
lên
đường.
Qua Mỹ
với Tống
tôi sẽ
thấy rõ,
chắc là
toàn
những
việc làm
động-địa
kinh-thiên,
của một
anh-hùng
hậu-chiến
Việt-Nam!