| |
18 đời vua Hùng Vương:
Một ý niệm về liên tục
Nguyên Nguyên
Bài này được chuẩn bị viết cách đây cũng
3-4 tháng. Nhưng bận chuyện này chuyện
nọ nên cứ bị đình hoãn hoài. Hay cũng
không bằng hên. Chính nhờ ở việc trì
hoãn đó, nhiều chứng liệu rất quan trọng
liên tiếp đập vào mắt người viết. Đặc
biệt qua những phim kung fu thời 60-70
của Shaw Brothers, ngày nay được tung ra
lại thị trường dưới dạng DVD.
Đề tài chính của bài này: Chuyện 18 đời
vua Hùng Vương có thật hay không? Con số
18 có chính xác chỉ 18 đời vua hay không?
Hoặc giả được ghi sai chép trật? Từ 80
đời hoặc 180 đời, chép lộn ra thành 18
đời? Hoặc không có gì hết.
Sau đây xin quan sát 'chuyện 18 đời'
dưới một góc độ tương đối mới, và sẽ cố
gắng tránh đề cập đến những vấn đề liên
hệ, như: trăm con, gốc gác Âu Cơ và Lạc
Long Quân, Hùng Vương, Văn Lang, v.v.
Xin để dành cho những dịp khác.
Viết về Họ Hồng Bàng, quyển Việt Nam Sử
Lược của Trần Trọng Kim [1] có chép:
'Cứ theo tục truyền thì Vua Đế Minh là
cháu ba đời của vua Thần Nông, đi tuần
thú phương Nam đến Ngũ Lĩnh (thuộc tỉnh
Hồ Nam bây giờ) gặp một nàng tiên, lấy
nhau đẻ ra người con tên Lộc Tục. Sau Đế
Minh truyền ngôi lại cho con trưởng là
Đế Nghi làm vua phương Bắc, và phong Lộc
Tục làm vua phương Nam, xưng là Kinh
Dương Vương, quốc hiệu là Xích Quỷ.
Bờ cõi nước Xích Quỷ bấy giờ phía Bắc
giáp Động Đình Hồ (Hồ Nam), phía Nam
giáp nước Hồ Tôn (Chiêm thành), phía Tây
giáp Ba Thục (Tứ Xuyên), phía Đông giáp
bể Nam Hải.
Kinh Dương Vương làm vua nước Xích Quỷ
vào quãng năm Nhâm Tuất (2879 trước Tây
Lịch?) và lấy con gái Động Đình Quân là
Long nữ đẻ ra Sùng Lãm, nối ngôi làm vua,
xưng là Lạc Long Quân.
Lạc Long Quân lấy con gái vua Đế Lai tên
là Âu Cơ, đẻ một lần được một trăm người
con trai. Lạc Long quân bảo Âu Cơ rằng:
''Ta là dòng dõi Long-quân, nhà ngươi
dòng dõi thần tiên, ăn ở lâu với nhau
không được. Nay được trăm đứa con thì
nhà ngươi đem 50 đứa lên núi, còn 50 ta
đem xuống bể Nam Hải.''
Sau đó vẫn theo 'truyền thuyết' Lạc Long
Quân phong cho người con trai trưởng làm
vua nước Văn Lang, xưng là Hùng Vương.
Hùng Vương cai trị nước Văn Lang theo
lối cha truyền con nối đến 18 đời, thì
bị Thục Phán, từ biên cương phía Bắc,
đánh bại. Thục Phán lên ngôi, xưng là An
Dương Vương, đổi quốc hiệu là Âu Lạc. Đó
là năm 258 trước Công Nguyên (TCN).
Theo sách vở cũ, các đời vua Hùng bắt
đầu từ năm 2879 và kết thúc vào 258 TCN.
Tổng cộng 2622 năm. Nếu chia ra 18 đời
thì mỗi một đời vua kéo dài trung bình
146 năm. Một chuyện hết sức hoang đường,
nếu nhớ: (i) Các triều đại vua chúa bên
Tàu vào thời Xuân Thu Chiến Quốc kéo dài
trung bình khoảng 10-20 năm, như Châu
Trang Vương (696-682 TCN), 14 năm chẳng
hạn; và (ii) Đời sống con người thời đó
trung bình chỉ kéo dài khoảng 50 năm.
Hơn thời sống trong hang động chừng 20
năm.
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư [2], xuất hiện
khoảng 1479 dưới đời vua Lê Thánh Tôn,
chính là bộ sử đầu tiên đưa truyền
thuyết Âu Cơ - Lạc Long Quân, rồi Hùng
Vương vào sử sách nước Việt. Trước thời
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, có 2 bộ sử nữa,
nhưng hoàn toàn không đề cập đến truyền
thuyết Lạc Long Quân. Đó là Đại Việt Sử
Ký của Lê Văn Hưu, xuất hiện năm 1272,
và Đại Việt Sử Lược với tác giả khuyết
danh, ra đời trong khoảng cuối thế kỷ 14
dưới đời nhà Trần. Bộ sách của Lê Văn
Hưu, tuy thất truyền từ lâu nhưng phần
lớn được Ngô Sĩ Liên xử dụng khi soạn
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. Đại Việt Sử
Lược thất lạc nhiều năm, nhưng về sau
được một vị quan nhà Thanh tìm được ở
một thư khố bên Tàu.
Chuyện tích vua Hùng với 18 đời, cùng
những truyền tích khác như: Phù Đổng
Thiên Vương, Sơn Tinh Thủy Tinh,...,
thật ra được Ngô Sĩ Liên nhập vào bộ Đại
Việt Sử Ký Toàn Thư, từ những sách thuật
chuyện u linh hoang đường như: 'Việt
Điện U Linh Tập', và 'Lĩnh Nam Chích
Quái', xuất hiện trong khoảng thế kỷ 14.
Đặc biệt 'Lĩnh Nam Chích Quái', do tiến
sĩ Vũ Quỳnh hiệu đính, thuật lại những
chuyện thần thoại ở khu vực phía Nam
rặng núi Ngũ Lĩnh (Lĩnh Nam), tức phía
Nam của nước Sở ở vào thời Xuân Thu
Chiến Quốc xa xưa (722-221 TCN).
Trở lại với năm đầu và năm cuối của thời
Hồng Bàng. Trần Trọng Kim dùng thẳng tài
liệu của Đại Việt Sử Ký Toàn Thư
(2879-258 TCN) - nhưng đặt thêm một dấu
hỏi (?) sau năm khởi đầu: 2879 TCN. Bởi
thật ra, chính Ngô Sĩ Liên cũng chỉ đề
cập đến 18 đời ở bên ngoài phần 'Ngoại
Kỷ' (từ thời Hồng Bàng đến Ngô sứ quân).
Đặc biệt Ngô Sĩ Liên có chép lời bàn ở
cuối 'chương' về thời Hồng Bàng [2], bày
tỏ mối ngờ vực về truyền thuyết Âu Cơ: 'Cái
thuyết nói 50 con theo mẹ về núi, biết
đâu không phải là thế'. Còn Sơn Tinh
Thủy Tinh thì ông cho: 'rất là quái đản,
tin sách chẳng bằng không có sách, hãy
tạm thuật lại chuyện cũ để truyền lại sự
nghi ngờ thôi'.
Ngô Sĩ Liên đã đoán rất đúng: Khi nhét
các truyền tích vào cổ sử, ông đã tiếp
tục gieo nghi ngờ và thắc mắc với mọi
người Việt từ lúc đó cho mãi đến ngày
nay. Mặc dù đã căn dặn kỹ: 'tin sách
chẳng bằng không có sách' (tận tín thư
bất như vô thư) [7].
Mãi cho đến cuối thế kỷ 20, nỗ lực của
nhiều nhà nghiên cứu lịch sử đã đưa đến
một số điều chỉnh về năm tháng. Trong đó
niên đại kết thúc đời Hồng Bàng (và bắt
đầu thời Thục Phán) được dời về năm 208
TCN (xem ghi chú trong [3]). Đặc biệt,
gần đây, họ phối hợp những luận cứ dựa
trên các khám phá khảo cổ học về thời
đại văn minh Đông Sơn với một đoạn ngắn
của quyển Đại Việt Sử Lược [2], thất
truyền lâu năm nhưng về sau tìm lại được
ở thời Mãn Thanh (bên Tàu):
'Đền đời Trang Vương nhà Châu [4]
(696-682 TCN), ở bộ Gia Ninh có người lạ
dùng ảo thuật áp phục được các bộ lạc,
tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn
Lang, đặt quốc hiệu là Văn Lang, phong
tục thuần lương chơn chất, chính sự dùng
lối kết nút. Truyền được 18 đời, đều
xưng là Hùng Vương'.
Xin chú ý đến một vài điểm:
(i) Đại Việt Sử Lược vẫn cho thời đại
Hùng Vương kéo dài 18 đời.
(ii) Không có ghi chi tiết Cha Mẹ của
Hùng Vương. Tức 'giấy khai sinh' của
Hùng Vương không có tên Lạc Long Quân và
Âu Cơ.
(iii) Vua Hùng thứ nhất khởi đầu 'sự
nghiệp' vào khoảng năm 688 TCN, và kết
thúc vào năm 208 TCN. Bình quân 26 năm
cho mỗi một đời vua.
(iv) Chính sự dùng dây kết nút để...
truyền thông với nhau. Tức không có chữ
viết. Không có sử sách gì hết. Tức không
giống như văn minh Hoa Hạ ở khu vực bình
nguyên sông Hoàng Hà.
Tóm tắt:
- Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, 18 đời
vua Hùng: 2879-258 TCN
- Theo nhiều tài liệu sử hiện nay, dựa
trên tài liệu khai quật và Đại Việt Sử
Lược, 18 đời Hùng Vương: khoảng 688-208
TCN
Thế nhưng vẫn có nhiều người hãy còn ...
'ấm ức' không đồng ý, bởi làm như vậy số
năm văn hiến của nước Việt sẽ bị rút
xuống còn dưới 3000 năm, thay vì 4000
năm văn hiến như xưa. (Xem [8]). Tức
trong khi văn minh Hoa Hạ đã nở rộ, đời
sống con người ở nước Nam hãy còn khá
...man di.
Sau đây chúng ta thử nhìn vấn đề dưới
một góc độ khác. Một góc nhìn chịu ảnh
hưởng của toán học. Trong đó có số âm,
số dương, số thực và ... số ảo. Có hệ
thống đếm số 10, hệ thống đếm số 5 (như
dân Khmer ở cổ thời [11]), hệ thống đếm
số 2 (như trong máy điện toán). Cũng như
ý niệm về tập hợp.
Những con số 18
Để ý con số 18 hầu hết trên toàn thế
giới ngày nay thường được dùng để định
mức tuổi trưởng thành của người công dân.
Tuổi công dân. Bất cứ mọi dân tộc nào
trên thế giới cũng biết đến số 18 này.
Đối với văn hoá miền Hoa Nam, nhất là
đối với người Quảng Đông và Hongkong, số
18 là một con số hên. Phát âm số 18 theo
kiểu Quảng Đông: /xập bát/ (mười tám,
thập bát). Âm điệu rất giống với /xật
phát/ (tất phát), mang nghĩa ‘thế nào
cũng phát tài’.
Số 18 cho tuổi công dân, và số hên của
người Quảng Đông không có liên hệ gì hết
đối với 18 đời vua Hùng. Tuy nhiên, nếu
nhìn trở lại cội nguồn của lịch sử nước
Tàu chúng ta sẽ thấy ngay con số 18 đã
xuất hiện khi người Hoa bắt đầu viết sử
sách. Trước hết họ thêu dệt câu chuyện
ông Bàn Cổ, thủy tổ loài người, tức dân
Trung Quốc.
‘Theo tục truyền’, thuở ban đầu trời đất
lẫn lộn với nhau thành một khối, rất hỗn
độn. Vũ trụ là một cái trứng khổng lồ
chứa Bàn Cổ trong đó [13]. Bàn Cổ ngủ
trong trứng đến ‘18 ngàn’ năm, rồi mới
thức dậy. Thấy ngột ngạt, Bàn Cổ mới lấy
cây rìu rộng đập vỡ vỏ trứng. Ánh sáng
và khí thoát lên trên tạo thành Trời, và
phần lạnh và đục như chất bùn lắng xuống
phía dưới tạo thành Đất. Bàn Cổ đứng
chính giữa, đầu đội trời chân đạp đất.
Cả ba thực thể đó đều tăng trưởng với
mức độ mỗi ngày dài thêm một trượng, tức
chừng 3.3 thước (mét) tây. Rồi 18 ngàn
năm nữa trôi qua, Bàn Cổ vẫn đứng chính
giữa, ngăn cách Trời và Đất. Đến lúc Bàn
Cổ mất, chiều cao của Bàn Cổ đã đạt đến
9 triệu lí (xin để ý 18 chia cho 2 ra
9). Hơi thở Bàn Cổ trở thành gió và mây,
tiếng thành sấm. Một con mắt trở thành
mặt trời, con mắt kia thành mặt trăng.
Thân và tay chân biến thành 5 ngọn núi
lớn. Máu thành sông biển. Râu tóc trở
nên bao nhiêu ngôi sao và tinh tú ở trên
trời. Vân vân và vân vân.
Xin để ý, con số 18 trong chuyện Bàn Cổ
có vẻ thuần nhất chỉ một chuỗi trình
liên tục, một thứ chu kỳ [4]. Những sự
kiện hay sự vật trong đó mang cùng chung
một số đặc tính. Trong 18 ngàn năm đầu:
Bàn Cổ chìm trong giấc ngủ. Một liên tục:
Ngủ. Liên tục kế tiếp: Thức, trong thế
đứng, thế chổng, đầu đội trời chân đạp
đất. ‘Liên tục’ này cũng kéo dài 18 ngàn
năm. Cuối cùng, khi kết thúc liên tục ‘thức’,
hay chu kỳ ‘thức’, Bàn Cổ cao được 9
triệu lí (1 lí = 600 thước). Con số 9
thật ra chỉ là 18 chia cho 2.
Sau Bàn Cổ một ít lâu, xã hội của chủng
Hoa nguyên thuỷ bên sông Hoàng Hà có 3
vị vua trứ danh (Tam Hoàng), và 5 đế nổi
tiếng (Ngũ Đế). Tuy nhiên có chừng 5-8
giả thiết khác nhau về tên họ của những
vị này. Danh sách Tam Hoàng đáng kể và
thường thấy nhất chính là: Phục Hi, Thần
Nông và Hoàng Đế [14] [18]. Bà Nữ Oa
cũng có tên trong một số danh sách Tam
Hoàng. Trong số các danh sách Ngũ Đế,
một số có tên vua Nghiêu và vua Thuấn.
Theo thiển ý, những vị Tam Hoàng – Ngũ
Đế kiểu này chỉ mang tính chất biểu
tượng cho khối chủng tộc. Thí dụ: Vua
Thần Nông chỉ mang nghĩa: dân Hoa thời
đó bắt đầu sinh sống bằng nghề Nông. Bà
Nữ Oa đội đá vá Trời: Hoa chủng thuở xa
xưa mang Mẫu Hệ.
Chỉ có vua Nghiêu (Yao) và Thuấn (Shun)
là có vẻ ‘bán-huyền-thoại’ [12]. Thuấn
sau cùng truyền ngôi lại cho ông Yũ (Vũ),
khởi đầu triều đại đầu tiên của nước Tàu:
nhà HẠ. Nhà Hạ kéo dài được 18 đời với
vua cuối là Kiệt. Vua Kiệt là một bạo
chúa, ham mê trụy lạc, nên bị Thành
Thang hội chư hầu lật đổ và thiết lập
nên nhà Thang hay Thương (còn gọi Ân
(Yin), 1070-1027 trước Công Nguyên). Cho
đến nay vẫn chưa có tài liệu khai quật
để minh chứng hiện diện của nhà Hạ.
Nhưng có rất nhiều chứng tích về nhà
Thương [9] [12] [17].
Một lần nữa, con số 18 xuất hiện chỉ 18
đời vua nhà Hạ. Có thể để ý:
- Sử gia Trung quốc biết rất ít về nhà
Hạ, ngoài những truyền tích trong dân
gian. Đặc biệt vua Kiệt vì mê nàng Muội
Hỷ nên mất nước.
- 18 đời vua Hạ một lần nữa lại chỉ một
liên tục có cùng chung một số đặc tính.
Đó là chu kỳ đời nhà Hạ. Chi tiết không
được rõ!
- Số 18 do đó có thể hàm ý một ẩn số.
Một ẩn số khá hoa mỹ trong ngôn ngữ và
văn minh Hoa Hạ, thay vì ‘x’ như trong
toán học ngày nay.
Xin quan sát tiếp.
Vào một dịp tình cờ, trong những ngày
nghỉ nhân dịp Giáng Sinh và đầu năm
2005, tại hạ tìm ra được một tiệm chuyên
cho mướn đĩa DVD chuyên về phim Hongkong,
phim Hàn quốc, nhất là loại kiếm hiệp
trữ tình. Loạt phim kiếm hiệp thuộc thời
vàng son điện ảnh Hongkong, của Shaw
Brothers (Run Run Shaw và Runme Shaw),
vào thập niên 1960-70 được cho in lại
vào dạng DVD. Thế là liên tiếp nhiều hôm,
tại hạ cho đĩa DVD vào máy rồi ngồi xem
lại những phim kungfu cũ do các tài tử
gạo cội thời đó thủ diễn. Như: Trần Quan
Đại, La Liệt, Trần Tinh, Vương Yũ,
Khương Đại Vệ (David Chiang), Phó Thanh,
… Phải nhìn nhận phim kiếm hiệp Hongkong
thời đó thật hay. Hay đến nỗi nhà đạo
diễn lừng danh Mỹ Quentin Tarantino gần
đây đã làm 2 phim Kill Bill với Uma
Thurman, để vinh danh thời vàng son của
điện ảnh Hương cảng.
Liên tiếp hai phim Hongkong đã xử dụng ý
niệm ‘18’ để chỉ một liên tục, một chu
kỳ. Thứ nhất, bộ phim 3 điã DVD về ‘Xạ
Điêu Anh Hùng Truyện’ phóng tác theo
tiểu thuyết của Kim Dung, với tài tử
đoản mệnh Phó Thanh trong vai Quách Tĩnh.
Và thứ hai, phim ‘Thế võ Bọ Ngựa’ (Shaolin
Mantis) do David Chiang (Khương Đại Vệ,
Kang Da Wei) đóng vai chính.
Ở phim ‘Xạ Điêu Anh Hùng’, đoạn Bắc Cái
bị rắn của Tây Độc cắn, tàn phế võ công.
Bắc Cái Hồng Thất Công mới truyền ngôi
Bang chủ Cái Bang cho Hoàng Dung. Lúc
truyền chức vụ Bang chủ, Hồng Thất Công
có nói với Hoàng Dung, đại khái:’Bây giờ
thầy xin truyền lại cho con chức vụ Bang
Chủ của Cái Bang. Từ khi Bang ta được
thành lập, đến đời của Thầy là đời thứ
18,…’
Cũng lại con số 18, trong một câu chuyện
hoàn toàn hư cấu. Một con số ảo, trong
một bối cảnh với nhân vật ảo. Nhưng trên
một nền tảng văn minh…có thật và thứ
thiệt. Con số 18 ở đây lại đánh dấu kết
thúc 1 chu kỳ, một liên tục trong chiều
thời gian. Chu kỳ đó là một chu kỳ của
các Bang Chủ thuộc nam phái. Nó kết thúc
bởi Hoàng Dung là một người nữ, con gái
của Đông Tà Hoàng Dược Sư, trở thành một
Bang chủ mới.
Phim thứ hai kế tiếp, cũng dùng con số
18, đã cuối cùng thuyết phục được tại hạ
và đem lại hứng khởi viết nên bài này.
Đó là phim ‘Thế võ Bọ Ngựa Thiếu Lâm’ (Shaolin
Mantis) do Khương Đại Vệ thủ vai chính.
Chuyện phim nói về vụ người Hán lúc nào
cũng lén lút tụ tập lo bài Mãn phục Minh.
Vua Mãn Thanh ngày nọ mới phái đại hiệp
Wai Fong (David Chiang) văn võ toàn tài
đi truy tầm một đám phục quốc lợi hại ở
miền Giang Nam. Wai Fong phải trá hình
làm một ông đồ ngốc nghếch, để len vào
một gia đình vọng tộc, có tinh thần phục
quốc cao, với võ nghệ rất siêu quần. Gia
đình ấy có một người con gái rất khoái
võ nhưng không chịu học chữ. Thầy đồ nào
đến nhà dạy dỗ cho cô ta thường chỉ chịu
được năm bảy ngày, rồi cũng phải cuốn
gói chuồn êm. Lúc Wai Fong đến thị trấn,
y gặp thị đang đánh đập và đuổi ông Thầy
đồ già bởi không được vừa ý với lối dạy
của ông. Thấy Wai Fong đẹp trai, nho nhã,
cô ta mới mời dọn về nhà để làm lão sư
mới cho cô. Trước khi cho việc thầy Wai
Fong, cô này báo động trước, đại khái:
‘Anh có chắc đủ sức làm thầy tôi không.
Anh coi chừng rồi cũng như ông thầy già,
ban nãy bị tôi đuổi việc. Anh biết hôn,
ông Thầy đó là ông Thầy thứ 18 rồi đó.’
Thật quá rõ: số 18 được dùng để chỉ một
tập hợp, một liên tục, hay chu kỳ. Trong
trường hợp phim ‘Quyền Bọ ngựa’ nói trên,
nó chỉ một chu kỳ hay tập hợp những ông
thầy đồ già, có mạng ngũ hành không khắc
được cô học trò ngỗ nghịch hư hỏng kia.
‘Liên tục’ đó sẽ được khép kín lại sau
khi thầy Wai Fong nhận việc. Bởi thầy
Wai Fong sẽ mở màn cho một ‘liên tục’
mới. Một liên tục, tràn đầy những ca
khúc tình yêu, dẫn đến tình vợ chồng
giữa cô học trò tinh ý và ông thầy Wai
Fong.
Ta để ý, trong tất cả các trường hợp
dùng 18 - từ 18 đời vua nhà Hạ cho đến
18 ông thầy không trị được học trò –
danh tánh và chi tiết về 18 vị đó hoàn
toàn mang tính cách… không quan trọng.
Không thành vấn đề. Người phát ngôn ra
con số 18 đó có vẻ chỉ muốn chúng ta
biết ‘đó là một con số nào đó’, có thể
lớn hơn 2, hoặc nhiều hơn 3. Và cũng có
thể là một con số Không (0). Số chính
xác không quan trọng. Bởi thực chất của
nó chẳng có quan trọng. Nhưng quan trọng
hơn chỉ ở chỗ những phần tử trong ‘tập
hợp’ đó mang cùng một số đặc tính chung.
Xin được lập lại, số 18 trong văn minh
Hoa Hạ có vẻ mang chung một ý nghĩa như
‘ẩn số X’ trong toán học. X= 0,1, 2,
3,…. Nhưng ký hiệu ‘18’ đó có vẻ hoa mỹ
hơn, chải chuốt hơn X. Và cũng có ý của
một số bán xác định hay bất chợt, tương
đương với N trong toán học. Với ngụ ý:
không cần tìm hiểu rõ chi tiết về đặc
tính của những nhân vật mang số từ 1 đến
18 làm gì. Chỉ cần hiểu đó là một tập
hợp, một liên tục, chu kỳ, hay chuỗi
trình kín, nay đã hoàn toàn kết thúc.
Bội số của 18 và 9
Bất cứ ai cũng đều biết rõ 18 chính là:
9 nhân cho 2. Khoảng cách từ mặt đất đến
trời xanh, theo ý niệm người Hoa thời cổ
đại, bằng chiều cao của Bàn Cổ, tức 9
triệu lý (= 4600000 km). Cũng dùng con
số 9.
Rất nhiều số đếm của văn minh Trung quốc
vẫn dùng đến 9 hoặc 18, và bội số của
chúng.
Về võ nghệ, ta có ‘thập bát ban võ nghệ’
tức 18 kiểu đánh võ khác nhau. Gồm: đánh
côn, đi quyền, v.v. Nhưng thật sự ít khi
thấy sách vở Tàu ghi lại đầy đủ 18 lối
đánh võ khác nhau đó.
Nếu đọc truyện Tàu xưa, ta cũng thường
thấy: ‘tam thập lục kế yĩ đào vi thượng’:
trong 36 kế, kế chạy trốn là hay nhất.
36 chính là = 18 nhân 2. Cũng ít thấy ai
cho biết chi tiết của từng mưu kế trong
con số 36 kế đó. Chùa Thiếu Lâm cũng vậy.
Nhiều phim kungfu hư cấu cho thấy phái
Thiếu Lâm có đến 36 phòng luyện võ. Mỗi
phòng một kiểu luyện khác nhau. Nhưng
cũng ít khi quay cho thấy đầy đủ 36
phòng đó.
Đọc Tây Du Ký, ta để ý hai nhân vật có
bùa phép thần thông quảng đại nhất.
Người thứ nhất là Tôn Ngộ Không, tức Tề
Thiên Đại Thánh. Người thứ hai, Dương
Tiễn tức Nhị Lang. Cả hai đều có đến 72
thứ phép tắc thần tiên. Thường gọi: thất
thập nhị huyền công. Xin kể vài thứ phép.
Tôn Ngộ Không có thể bứt một cọng tóc
thổi phù một cái. Presto! Cọng tóc biến
ngay ra thành một Clone Tôn Ngộ Không
khác, với khả năng bùa phép, võ nghệ y
hệt như Tôn Ngộ Không thiệt. Tôn Ngộ
Không cũng có thể uốn người nhảy lên
không trung một cái, lập tức biến thành
con chim. Nhị Lang Dương Tiễn cũng vậy.
Cũng đầy đủ 72 thứ bùa phép y như Tôn
Ngộ Không. Nhưng có lẽ vì y thuộc loại
quan ở trên Trời, đi đâu cũng có chó
theo, nên tác giả cho y thuộc phe chánh
đạo, phải trên rơ phe tà đạo đại diện
bằng Tề Thiên. Cũng có thể y mang mạng
Kim, phía Tây, nên có vẻ trên cơ hơn một
chút và khắc được Tôn Ngộ Không, mạng
Thổ, phía Đông. Tuy cả hai cùng có ‘thất
thập nhị huyền công’ như nhau.
Nhưng đặc biệt để ý, tác giả Ngô Thừa Ân
không bao giờ liệt kê đầy đủ 72 thứ phép
thần thông đó gồm những thứ phép nào. Ta
chỉ biết 72 là một bội số của 18, và tất
nhiên của 9: 72= 18 x 4; 72= 9 x 8.
Như vậy có thể tóm tắt: Trong văn minh
người Hoa, họ rất thích dùng những con
số như 9, 18, 36, 72, 108 (108 anh hùng
Lương Sơn Bạc trong ‘Thủy Hử’),… Tất cả
đều là bội số của 18, đặc biệt cũng là
bội số con số 9.
Thế tại sao họ lại thích con số 9? Có
nhiều lý do, và xin để lý do chính qua
phần sau. Lý do thông thường: số 9 là số
dùng để chỉ vua chúa.
Người Trung quốc từ thời xa xưa đã dành
số lẻ để chỉ đàn ông, và số chẵn chỉ đàn
bà. Con số 9 tượng trưng cho người đàn
ông có uy quyền nhất. Số 9 do đó dùng để
chỉ các bậc đế vương.
Theo chuyện kể của Ngọc Phương [10],
‘những toà điện trong Tử Cấm Thành ở Bắc
Kinh gồm 9900 gian nhà. Các tháp canh ở
bốn góc cung điện đều có 9 xà và 18 cột.
Còn trên các bức từơng bình phong có
trạm khắc 9 con rồng…
Một ví dụ điển hình nhất về con số 9
huyền thoại là bệ thờ ở Thiên Đàn Bắc
Kinh – nơi các hoàng đế thời Minh và
Thanh hàng năm thường tế Trời để cầu cho
quốc thái dân an. Bệ thờ có hình tròn,
xây thành 3 cấp. Mặt trên của bệ thờ
ghép bằng 9 vòng đá đồng tâm. Vòng đá
trong cùng gồm 9 phiến đá hình quạt,
vòng thứ hai gồm 18 phiến (9x2), vòng
thứ ba 27 phiến (9x3), … cho đến vòng
ngoài cùng, vòng thứ 9 gồm 81 phiến
(9x9) ghép lại.’
Hệ số đếm dùng con số 9
Giải đáp số 9 là số của vua chúa, tuy
tiến thêm 1 bước nhưng vẫn chưa giải
thích được toàn diện tại sao người Hoa
từ xưa vẫn ưa dùng các bội số của 9, như
36, 72, 108, và nhất là 18. Mặc dù rằng
chúng ta đã khá đủ tư liệu, kể trên, để
chứng minh rằng: số 18 trong ‘18 đời vua
Hùng’ chỉ là một con số quy về ý niệm
của một liên tục, một châu kì, một tập
hợp kín.
Đóng góp quan trọng thứ hai của bài này
chính là giả thuyết: Người Hoa nguyên
thủy, kể luôn cả chủng Yueh (Việt) ở
phía Nam sông Dương Tử, vào thuở khai
thiên lập địa, tạo dựng nên xã hội, đã
dùng hệ thống đếm dựa trên con số 9, chứ
không phải con số 10 theo hệ thống thập
phân hiện nay. Phát hiện này, mặc dù còn
trong dạng giả thuyết, có lẽ từ xưa đến
nay chưa thấy bàn đến trong sách vở. Và
có lẽ chính người Hoa cũng không ngờ tới
chuyện này.
Thế nào là hệ thống đếm số 9? Muốn hiểu
hệ thống đếm số 9 ta thử nhờ một em bé
đếm thử từ 1 đến 20. Em đếm, bằng mọi
ngôn ngữ trên thế giới:
1 – 2 – 3 – 4 – 5 – 6 – 7 – 8 – 9 rồi
10. Tức con số lớn nhất trong hệ thống
thập phân. Sau đó, em đếm tiếp: 10+1, em
gọi tắt ‘mười một’, rồi 10+2, gọi tắt
12, 10+3, gọi tắt 13,… tuốt đến 19 (tức
10+9). Sau đó, em đếm 10+10. Nhưng
10+10, em nghĩ có vẻ bất tiện, nên thế
bằng: 2 lần 10, gọi tắt thành ‘hai mười’,
tức ‘hai mươi=20’. Tiếp theo đó: 20+1,
tức 21; 20+2, tức 22, v.v.
Như đã phân tích kỹ trong bài viết về hệ
thống đếm số của người Mường (hệ 9)
[11], ở thời cổ đại có nhiều hệ thống
đếm số khác nhau. Thí dụ, người Khờ-Me
tức Cam Bốt ngày nay, dùng hệ thống đếm
số 5. Tức khi đếm tới số 5 là hết. Họ
phải đếm lại dùng số 1 ban đầu. Nghĩa là
họ xem số 6 như là 5+1. Tiếp tục:
7=5+2,…
Phát âm về số đếm trong tiếng Cam Bốt,
từ 1-12, xin liệt kê như sau:
0 = son {đọc như: /sohn/} => không
1 = múay /mooeh/ => một
2 = bpii /bpee/ => hai
3 = bey /bay/ => ba
4 = buan /booan/ => bốn
5 = bram /blam/ => năm => Số lớn nhất
trong hệ 5.
Muốn đếm tiếp, phải dùng đến số 5, rồi
cộng thêm:
6 = bram-múay /blam-mooeh/ => sáu => sáu
(6)= bram (5)+muay (1): bram-muay
7 = bram-bpil /bram-bpee/ => bảy=> bảy
(7)= bram (5)+bpil (2): bram-bpil
8 = bram-bey /bram-bay/ => tám => 8=
bram (5)+bey (3)
9 = bram-búan /bram-booan/ => chín => 9=
bram (5)+buan (4)
10 = dop /dup/ => mười => một tên gọi
mới có nghĩa 2x5
11 = dop-muay /dup-mooeh/ => 11= dop
(10)+muay (1), mười một
12 = dop-bpii /dup-bpie/ => 12= dop
(10)+bpie (2), mười hai
……………………
16 = dop-brammuay /dup-blammơoeh/ => 16=
dop (10)+bram(5)+muay(1)
Như vậy, đối với hệ đếm số 5, số 5 là số
lớn nhất. Hệ đếm này dựa vào lối đếm
dùng bàn tay 5 ngón.
Đối với hệ thống đếm số 10 như toàn cầu
xử dụng hiện nay, số 10 là số lớn nhất.
Hệ đếm số 10 xử dụng cả 10 ngón tay.
Đối với hệ thống đếm số 9, số 9 là số
lớn nhất. Trong hệ đếm đó, số 9 lớn nhất
đã được dùng để chỉ vua chúa. Hệ thống
đếm số 9, theo thiển ý, đã dành 1 ngón
tay để chỉ số không (0). Còn lại 9 ngón
kia dành cho số đếm từ 1 đến 9.
Hệ thống đếm số 9 vận hành ra sao? Như
thường, đếm từ 1 đến 9. Số 10 đã được
đếm như 9+1. Mười một: 9+2, v.v. cho đến
17= 9+8.
Rồi 18 sẽ được gọi như= 2 lần 9. Tức 29.
Số 19 sẽ trở thành ‘2 lần 9 + 1’.
Đếm tuốt đến 27 ta sẽ đếm theo hệ thống
9 thành 39, tức 3 lần 9. Ba lần chin =
39 = 3x9 = 27. Đúng là những con số Bình
Nguyên Lộc [5] đã nêu lên thắc mắc không
hiểu tại sao người Mường lại đếm số khác
với Việt. Việt gọi số đếm 27, trong khi
Mường gọi đó 39. Số 39 của Mường mang
nghĩa 3 lần 9, thuộc hệ thống đếm số 9.
Việt 27 = Mường 39. Hai mươi bảy bằng
vơí ba nhân cho chin lần, 27= 3x9. Mường
đọc ‘ba chỉn’, tức 39. Muốn biết rõ về
người Mường, và nếp sống cùng văn hoá
của họ xin xem tác phẩm của Jeanne
Cuisinier về xã hội Mường xuất bản vào
năm 1946 [15].
Rất có thể người Hoa ở thời mới tạo dựng
xã hội đã dùng hệ thống đếm 9, bởi những
lý do sau:
(i) Họ đã dùng số 9 để chỉ người đàn ông
có quyền lực nhất. Số 9 là số lớn nhất
trong hệ thống đếm số 9. Chứ không phải
trong hệ thống đếm số 10 như Ngọc Phương
đã trình bày [10].
(ii) Vào thời cổ đại, thật cổ, văn minh
Trung Đông chưa truyền đến Trung Quốc.
Người Hoa chắc chắn phải có một hệ thống
đếm hơi khác với hệ đếm số 10, của Trung
Đông. Mặc dù rằng có thể đến đời nhà
Thương, hoặc đầu đời nhà Châu (khoảng
năm 1000 trước Công Nguyên), hệ thống
đếm số 10 đã du nhập đến Khu vực sông
Hoàng Hà.
(iii) Người Hoa vẫn thích dùng bội số
của 9, như 18, 36, 72,… Y như những
người quen hệ thống 10, sẽ thích dùng:
10, 20, 30, 40…
(iv) Người Mường cho đến giữa thế kỷ 20
vẫn còn dùng hệ thống đếm số 9, họ đã
mang theo khi di cư về phía Nam. Người
Mường là ai? Đại khái họ cũng cùng chung
chủng Yueh (Việt), nhưng thuộc chi Thái.
Khi xưa họ tập trung ở vùng phía Nam
sông Dương Tử, đặc biệt tại nước Ba và
Thục, giáp giới với nhà Tây Châu
(770-476 TCN). Sau khi nước Thục bị nhà
Tần dứt điểm, họ thiên cư về Nam, và gia
nhập cộng đồng Tây Âu ở khu vực Quảng
Tây, Quí Châu, ngày nay. Bởi những gì họ
còn giữ, rất có khả năng đã được chia xẻ
qua lại với Hoa chủng bên nước Châu ngày
trước. Nên nếu họ còn giữ hệ thống đếm
số 9, người Hoa thứ thiệt tại nước Châu
ngày xưa thật xưa chắc cũng đã dùng hệ
đếm số 9 đó.
(v) Nếu ở cổ thời, lúc văn minh phương
Tây chưa mang sang hệ đếm số 10, rất có
khả năng cả hai vùng Hoa Nam và Hoa Bắc
đều xử dụng và quen thuộc với hệ đếm
theo số 9. Từ đó họ sẽ quen dùng những
bội số như 18, 24, 36, 72, v.v.
(vi) 18 đời vua nhà Hạ, triều đại khởi
thủy của nước Tàu, đã xử dụng con số 18
theo thói quen của hệ thống đếm số 9 đó.
Và từ đó việc vay mượn ý niệm triều đại
Hồng Bàng của Tàu đưa vào truyền thuyết
dựng nước ở phía Nam, chắc cũng không có
gì lạ cả.
Tóm tắt
Bài này thử nhìn vấn đề ’18 đời vua
Hùng’ dưới góc độ toán học và văn minh
Hoa Hạ. Kết quả cho thấy con số 18 thật
ra chỉ là một con số bất chợt, không
liên hệ đến chi tiết lịch sử.
Số 18, trong văn hoá Trung quốc, thông
thường được dùng để chỉ một chu kỳ. Hoặc
một liên tục, một tập hợp, mà những phần
tử trong tập hợp đó có cùng chung một số
đặc tính. Ở một mặt khác, nó là một con
số che lấp những thiếu thốn về hiểu biết
và chi tiết về tính chất của từng phần
tử trong tập hợp đó. Nói một cách khác,
số 18 chỉ là một lối nói cho văn vẻ,
dùng toán số (2x9= 18) của giới sĩ phu
Trung quốc. Có lẽ với mục đích… để hù
những người không biết chữ, và cũng để
cho bài viết, bài văn cho được trôi
chảy, không có những điều ‘không biết’.
Số 18 là một con số dùng để…che mắt, lấp
loát những cái không biết.
Số 18 hoặc 36, 72, hay về sau ‘Bách’ tức
100, như dùng để chỉ khối chủng Yueh
(Bách Việt), đã được xử dụng hết sức
tiện nghi. ‘Bách’ dùng để chỉ số nhiều,
đếm không hết, chứ không phải 100. Bởi
vào thời Xuân Thu, ở phía Bắc sông Dương
Tử có đến trên dưới 1000 nước [12]. Khối
Yueh ở phía Nam chắc cũng tương tự, vượt
trên 100 rất xa. Do đó nếu ‘Bách’ (100)
là một con số bất chợt, thì ‘thập bát’
(18) cũng chỉ như vậy mà thôi.
Nhìn lại công trình của Ngô Sĩ Liên dười
góc độ của thế kỷ 21 hiện nay, bắt buộc
ta phải có một cái nhìn khác. Trong góc
nhìn đó, chúng ta phải nhớ, Ngô Sĩ Liên
và cộng sự đã có tư duy rất khó vượt
khỏi lối suy nghĩ, lối viết lách của
những sư phụ ở Bắc phương. Họ phải theo
một khuôn khổ định trước để chứng tỏ tri
thức đã đạt tới mức chuẩn của giới khoa
bảng ở phương Bắc. Từ đó ta có thể thấy:
(i) Truyền thuyết viết ra sao, họ chép y
lại như vậy. Chỉ được phép than thở hoài
nghi trong phần luận bàn mà thôi. Đặc
biệt nhất, Ngô Sĩ Liên đã căn dặn hậu
bối: ‘Hoàn toàn tin vào sách chẳng bằng
không có sách’.
(ii) Lối viết sử kiểu Tàu ra sao, họ sẽ
theo y như vậy. Tàu không biết nhiều về
nhà Hạ, nên phải gom góp các chuyện cổ
tích, các truyền thuyết, rồi đưa vào con
số 18 rất phổ thông, để gói ghém một
trang sử cổ cho được đẹp mắt. Không có
cách gì khác, phía bên An-nam cũng làm
theo y như vậy. Họ làm việc qua nhiều
tác phẩm và nhiều năm tháng, để rồi sau
cùng, Ngô Sĩ Liên và các cộng sự thu
thập tất cả, đặc biệt 18 đời vua Hồng
Bàng, rồi đưa vào bộ Sử Ký có tầm vóc
đầu tiên của nước Nam.
(iii) Đặc biệt 18 đời vua Hồng Bàng Việt
Nam, rập y khuôn 18 đời vua nhà Hạ,
triều đại hồng bàng ở bên Tàu. Để ý rất
nhiều bài viết trong vài thập kỷ qua ưa
liệt kê danh sách các đời vua Hùng. Khổ
nỗi tất cả đều viết tên hiệu bằng…chữ
Hán ròng. Thí dụ, Hùng Huệ Vương, Hùng
Tấn Vương, v.v. Y như là cái nước của
mấy ông vua Hùng giống như mấy cái nước
chư hầu ở đời nhà Châu phía bắc sông
Dương Tử, thời Xuân Thu Chiến quốc. Và
những vua Hùng này có lẽ nói với thần
dân của các ông bằng tiếng Tàu, trước
khi người Tàu đến nước đó cả ngàn năm.
(iv) Truyền thuyết dựng nước đó, ở mặt
cội nguồn, cũng không quên lôi thêm một
trong những biểu tượng xã hội nguyên
thủy của Tàu là ‘vua’ Thần Nông. Theo
thiển ý, Thần Nông chỉ là một biểu
tượng, chỉ một xã hội đã tiến lên ngành
canh nông để kiếm ăn, sinh sống. Nó cũng
giống như thời bây giờ, người ta dùng
‘Thế Kỷ 18’ để chỉ thời đại con người
đạt đến cách mạng công nghệ. Hoặc, trong
một tương lai nào đó, có thể người ta
dùng ‘thời đại Bill Gates’ để chỉ thời
đại điện toán, và internet. Chứ không
phải Bill Gates là ông tổng thống toàn
cầu ở vào thế kỷ 21, đối với hậu thế 4
ngàn năm sau, có thể đoán nhầm, v.v.
(v) Con số 18, thường dùng trong văn hoá
Trung quốc để chỉ một chuỗi trình nào đó
theo với chiều thời gian, mà chi tiết
thường không biết rõ. Như một tập hợp,
như một liên tục nay đã khép kín. Bản
chất chi tiết của từng phần tử trong tập
hợp hay liên tục đó vẫn là ẩn số cho đến
ngày nay.
Tháng 3, 2005
N.N.
Ghi Chú
[1] Trần Trọng Kim ( 1971) Việt Nam Sử
Lược. Trung Tâm Học Liệu của Bộ Giáo Dục
xuất bản. Đại Nam tái xuất bản tại Hoa
Kỳ.
[2] Ngô Sĩ Liên và cộng sự (1697). Đại
Việt Sử Ký Toàn Thư. Thanh Việt và Phạm
Ngọc Luật hiệu đính theo bản dịch của
Đào Duy Anh. Nxb Văn Hoá Thông Tin
(2004). Bản của Viện Khoa Học Xã Hội
Việt Nam được trình bày đầy đủ trên mạng
internet: perso.wanadoo.fr/charite
[3] Khuyết Danh (1377-1388) Đại Việt Sử
Lược. Bản dịch của Nguyễn Gia Tường. Nxb
Thành Phố HCM. Bộ Môn Á Châu Á Học. Đại
Học Tổng Hợp, TP HCM.
[4] Họ Châu và họ Chu là hai họ hoàn
toàn khác nhau. Từ phát âm, ý nghĩa, lối
viết chữ Hán. Họ Châu có: Châu Nhuận
Phát, Châu Ân Lai, nhà Châu bên Tàu
(Đông Châu liệt quốc), Châu Chỉ Nhược (Ỷ
Thiên Đồ Long Ký), v.v.. Họ Chu có: Chu
Nguyên Chương (Minh Thái Tổ), Chu Dung
Cơ (cựu Tổng Lý), v.v. Từ ‘châu’ và
‘chu’ cũng vậy. ‘Châu báu, Trân Châu
Cảng,…’ đáng nhẽ phải được viết và phát
âm ‘chu báu, Trân Chu Cảng,…’. Ngược lại
‘Chu kỳ, Đông Chu liệt quốc,…’ đúng ra
phải được viết và đọc ‘châu kỳ, Đông
Châu liệt quốc,…’. Người Việt ưa lẫn lộn
hai thứ họ và từ 'châu' và 'chu', do
việc kị húy chúa Nguyễn Phúc Chu. Xin
xem [6].
[5] Bình Nguyên Lộc (1971) Nguồn gốc Mã
Lai của dân tộc Việt Nam. Nxb Xuân Thu
(USA) tái bản.
[6] Nguyên Nguyên (2004) Loạt bài: ‘Từ
chữ Nôm đến quốc ngữ’ (tổng cộng 8 bài).
Có đây đủ.tại các mạng: Khoahoc.net,
Aihưucongchanh.com, honque.net,
perso.wanadoo.fr/charite.
[7] Ở một đoạn bàn luận về Lạc Long
Quân, Ngô Sĩ Liên [2] cho thấy ông cũng
có một viễn kiến đi trước Charles Darwin
khá lâu: 'Trong buổi trời đất mới mở
mang có người do khỉ mà hoá ra...'
[8] Nguyễn Vũ Tuấn Anh (2002) Thời Hùng
Vương qua truyền thuyết và huyền thoại.
Nxb Văn Hoá Thông Tin.
[9] Arthur Cotterell (1995) China – A
History. Pimlico (Random House)
[10] Ngọc Phương (2003) Kể chuyện Văn
Hoá Truyền Thống Trung Quốc. Nhà Xuất
Bản Thế Giới (Hànội)
[11] Nguyên Nguyên (2004) Thử tìm hiểu
số đếm 1-10 trong văn minh Đông Sơn. Xem
các báo mạng: khoahoc.net, honque.net,
aihuucongchanh.com,
perso.wanadoo.fr/charite,...
[12] Nguyễn Hiến Lê (2002) Sử Trung
Quốc. Nxb Văn Hoá
[13] Janet McRae & Peg White (1984) The
Chinese Way. Brooks Waterloo
[14] Phục Hy, đặt ra bát quái, căn bản
của Kinh Dịch. Thần Nông: tổ nghề nông
và dược thảo. Hoàng Đế: biểu tượng của
vua đất màu vàng (Hoàng). Đất vàng có
tên khoa học là loess, chính là đất bồi
do gió mang đến. Ở Trung thổ có lớp dày
đến 3 thước. Rất phì nhiêu bởi nước thẫm
dễ dàng. Người Hoa cho dân tộc họ mang
mạng Thổ, màu vàng, ở miền chính giữa:
Trung. Bởi vậy nước của họ gọi Trung Hoa
hay Trung Quốc. Thời xưa, nếu đối chiếu
với bên ngoài họ vẫn gọi đất của họ:
Trung nguyên. Thí dụ, trong truyện của
Kim Dung, giới giang hồ ưa hỏi nhau:
‘Không biết tin đồn Tạ Tốn đã trở lại
Trung nguyên có thật hay không’. Hiện
diện của bà Nữ Oa, được sắp xếp rất lộn
xộn, chỉ chứng tỏ giai đoạn cổ thời theo
Mẫu hệ của Hoa chủng. Theo đó bà Nữ Oa
đáng lẽ phải được sắp xếp trước tiên.
Điển hình, Thái Dương Thần Nữ của dân
tộc Phù Tang bị kẹt cứng thành mẫu tổ
của dân Nhật. Dân Trung Hoa xưa sau khi
chuyển qua Phụ hệ đã thay đổi thứ tự và
đưa bà Nữ Oa xuống.
[15] Jeanne Cuisinier (1946) Les Mương –
Géographie humaine et sociologie.
Institut d’Ethnologie. Paris
[16] Cũng có thể ‘tá’ ở thời thượng cổ
dùng để chỉ ‘hai chục’ theo hệ 9. Hai
chục trong hệ 9 tức là 2x9 = 18. Bởi
‘tá‘ (= 打 /da/ = ‘đôi’(?) = đôi chín =
đôi chục?) ngày xưa tại Viêt Nam, có nơi
chính là 18. Một tá xoài= 18 trái xoài =
2 x 9 trái xoài. Tất nhiên khi văn minh
các nơi khác đến, ‘tá’ được đem ra dùng
để dịch ‘dozen’, rồi trở thành 12. Nhưng
đây chỉ là tản mạn mà thôi.
[17] Xin để ý ngoài cái mốt 18 cho một
liên tục về thời đại, cổ sử Hoa ưa cho
việc mất nước vì đàn bà đẹp. Có lẽ ‘suy
diễn ngược’ từ vụ Đường Minh Hoàng với
Dương Quí Phi. Đầu tiên vua Kiệt nhà Hạ
vì mê nàng Muội Hỉ nên bị Thành Thang
diệt. Kế đó vua Trụ nhà Thang vì sủng ái
Đắt Kỉ nên mất nước với nhà Châu. Tiếp
theo đó, vua nhà Châu vì mê Bao Tự nên
thua giặc rợ Khuyển Nhung và bị giết.
Sau đò phải di đô về phía Đông: Đông
Châu.
[18] Sử Việt Nam có vẻ mang khuynh hướng
dễ dãi xem những vị Tam Hoàng Ngũ Đế này
có thật. Người Tây Phương lại khác. Họ
ưa xem những vị thần thánh nguyên thủy
này như những biểu tượng xã hội.
Nguyên Nguyên
|